Search This Blog

Saturday, 28 February 2015

011 Mạc phủ tức sự 幕府即事


Sau mấy mươi ngày hành trình gian khổ (qua vùng chân núi bùn ngập sâu bụng ngựa, khe suối âm u ma quái...), sứ giả — mệt mỏi "lòng như chết" — tạm nghỉ chân dọc đường ở trạm mạc phủ. Nhưng ở đây, cả đêm thanh la inh ỏi, không ngủ được. Nghĩ tới đường còn xa muôn dặm trước mặt, không khỏi than van.






谿



Triệt dạ la thanh bất tạm đình
Cô đăng tương đối đáo thiên minh
Kinh tuần khứ quốc tâm như tử
Nhất lộ phùng nhân diện tận sanh
San lộc tích nê thâm một mã
Khê tuyền phục quái lão thành tinh
Khách tình chí thử dĩ vô hạn
Hựu thị Yên Sơn vạn lí hành


Dịch nghĩa:
Tức cảnh ở mạc phủ (1)


Suốt đêm tiếng thanh la không tạm ngớt
Ngồi đối mặt ngọn đèn cô đơn cho đến sáng
Xa cách nước nhà đã mấy mươi ngày (tuần=mười ngày), lòng như chết
Dọc đường gặp toàn người lạ mặt.
Chân núi chứa bùn ngập sâu bụng ngựa.
Yêu quái ẩn núp nơi khe suối, già đã thành tinh.
Tình lữ khách đến đó cũng thật quá chừng
Lại còn phải đi hàng muôn dặm nữa mới tới Yên Sơn (2)


Dịch thơ:
Chép chuyện nơi trạm nghỉ chân

Thâu đêm chẳng ngớt tiếng đồng la,
Đợi sáng riêng nương ngọn nến tà.
Mấy tháng ôm lòng xa đất tổ,
Trên đường lạ mặt những người ta!
Quái nằm nhẩy suối, hồn ma dậy,
Bùn chứa đầy non vó ngựa sa.
Tình cảnh ngán ngao đà đến thế,
Yên Sơn còn cách vạn trùng xa.


(Quách Tấn dịch)

chú thích

(1) Mạc phủ: vốn chỉ doanh trướng của tướng soái khi làm việc ở ngoài. Sau phiếm chỉ phủ thự của quan lại bậc cao trong quân chính. Đây chỉ nhà trạm cho sứ giả nghỉ chân.
(2) Yên Sơn: dãy núi ở gần kinh đô Trung Quốc. Đây chỉ Yên Kinh (kinh đô nhà Thanh).


















Friday, 27 February 2015

Bắc Hành Tạp Lục 北行雜錄


Chuyến đi (06/05/1813 - 27/10/1813)

001 Long Thành cầm giả ca 龍城琴者歌
002-003 Thăng Long 昇龍
004 Ngộ gia đệ cựu ca cơ 遇家弟舊歌姬 
005 Giáp thành Mã Phục Ba miếu 夾城馬伏波廟
006 Quỷ Môn Quan 鬼門關
007 Lạng thành đạo trung 諒城道中
008 Lưu biệt cựu khế Hoàng 留別舊契黃
009 Nam Quan đạo trung 南關道中 
010 Trấn Nam Quan 鎭南關 
011 Mạc phủ tức sự 幕府即事
012 Minh Giang chu phát 明江舟發 
013 Hoàng Sào binh mã 黄巢兵馬 
014 Ninh Minh giang chu hành 寧明江舟行
015 Vọng Quan Âm miếu 望觀音廟
016 Tam Giang khẩu đường dạ bạc 三江口塘夜泊 
017 Thái Bình thành hạ văn xuy địch 太平城下聞吹笛
018 Chu hành tức sự 舟行即事
019 Thái Bình mại ca giả 太平賣歌者 
021 Đề Đại Than Mã Phục Ba miếu 題大灘馬伏波廟
024 Thương Ngô tức sự 蒼梧即事
025 Thương Ngô mộ vũ 蒼梧暮雨
026-040 Thương Ngô Trúc Chi ca 蒼梧竹枝歌
041 Ngũ nguyệt quan cạnh độ 五月觀競渡
042 Dương Phi cố lí 楊妃故里  
046 Quế Lâm Cù Các Bộ 桂林瞿閣部
047 Quế Lâm công quán 桂林公館
048 Đề Vi Lư tập hậu 題韋盧集後 
049 Quá Thiên Bình 過天平
053-054 Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu 湘潭弔三閭大夫  
055 Phản Chiêu hồn 反招魂
056 Biện Giả 辯賈  
057 Trường Sa Giả Thái Phó 長沙賈太傅
058-059 Sơ thu cảm hứng 初秋感興 
060 Sở vọng 楚望
061-062 Lỗi Dương Ðỗ Thiếu Lăng mộ 耒陽杜少陵墓
063 Tương Âm dạ 湘陰夜  
064 Đăng Nhạc Dương lâu 登岳陽樓
070 Tín Dương tức sự 信陽即事
071 Ngẫu hứng 偶興  
072 Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm Hầu 渡淮有感淮陰侯
073 Độ Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng 渡淮有感文丞相  
074 Hà Nam đạo trung khốc thử 河南道中酷暑
081 Trở binh hành 阻兵行 
083 Đồng Tước đài 銅雀臺  
084 Thất thập nhị nghi trủng 七十二疑冢
085 Lạn Tương Như cố lí 藺相如故里
086 Hàm Đan tức sự 邯鄲即事
088 Liêm Pha bi 廉頗碑
089 Tô Tần đình 蘇秦亭 (I)
090 Tô Tần đình 蘇秦亭 (II) 
091 Dự Nhượng kiều chủy thủ hành 豫讓橋匕首行  
092 Dự Nhượng kiều 豫讓橋
093 Kinh Kha cố lí 荊軻故里  
096 Kì lân mộ 麒麟墓
097 Yển Thành Nhạc Vũ Mục ban xứ 郾城岳武穆班處


Chuyến về (16/11/1813 - 18/05/1814) 

020 Sơn Đường dạ bạc 山塘夜泊 
082 Kê Thị Trung từ 嵇侍中祠 
098 Ðông lộ 東路 
099 Quản Trọng Tam Quy đài 管仲三歸臺
104 & 105 Sở Bá Vương mộ 楚霸王墓
106 Liễu Hạ Huệ mộ 柳下惠墓
109 Từ Châu đê thượng vọng 徐州堤上望
115 Nhạc Vũ Mục mộ 岳武穆墓 
116 & 117 Tần Cối tượng 秦檜像 
118 & 119 Vương Thị tượng 王氏像 
120 An Huy đạo trung 安徽道中
121 Đào Hoa đàm Lí Thanh Liên cựu tích 桃花潭李青蓮舊跡
122-123 Đào Hoa dịch đạo trung 桃花驛道中
124 Tiềm Sơn đạo trung 潛山道中
125 Tây Hà dịch 西河驛
126 Sở kiến hành 所見行
127 Quảng Tế kí thắng 廣濟記勝  
128 Đồ trung ngẫu hứng 途中偶興
129 Hoàng Châu trúc lâu 黃州竹樓
130 Hoàng Mai sơn thượng thôn 黃梅山上村 
131 Hoàng Mai đạo trung 黃梅道中
132 Chu phát 舟發 










009 Nam Quan đạo trung 南關道中


Mùa xuân Quý Dậu (tháng 5 năm 1813), khí trời lạnh buốt, mưa trơn trượt, suốt hai mươi ngày đường hun hút núi xanh, thẳng lên hướng bắc...


Ngọc thư (1) phủng há ngũ vân đoan (2)
Vạn lý đan xa độ Hán quan (3)
Nhất lộ giai lai duy bạch phát
Nhị tuần sở kiến đãn thanh san
Quân ân tự hải hào vô báo
Xuân vũ như cao cốt tự hàn
Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn
Minh Giang (4) bắc thướng thị Trường An (5)


Chú thích

(1) Ngọc thư: sắc chiếu nhà vua.
(2) Ngũ vân đoan: từng mây năm sắc. Chỉ triều đình.
(3) Hán quan: cửa ải Nam Quan.
(4) Minh Giang: tức là sông Ninh Minh Giang
ở tỉnh Quảng Tây. Sông chia làm hai ngả bắc nam. Ngả nam chia ranh giới Việt Nam và Trung Quốc.
(5) Trường An: chỉ kinh đô, ở đây là Yên Kinh (Bắc Kinh).


Dịch nghĩa:
Trên đường Nam Quan

Chiếu của nhà vua từ tầng mây năm sắc ban xuống
Trên đường muôn dặm, chiếc xe lẻ loi vượt cửa ải nhà Hán.
Suốt dọc đường cùng ta chỉ có mái tóc bạc
Cả hai mươi ngày (nhị tuần) chỉ thấy núi xanh
Ơn vua như biển chưa mảy may báo đáp
Mưa xuân như mỡ lạnh buốt xương
Ðường của nhà vua rộng rãi bằng phẳng, thôi khỏi phải hỏi thăm
Theo dòng Minh Giang lên hướng bắc, ấy là Trường An

Dịch thơ:
Trên đường Nam Quan

Tầng mây năm sắc chiếu vua ban
Muôn dặm xe đơn vượt Hán quan
Một mạch đường dài trơ tóc bạc
Hai mươi ngày mỏi rặt non xanh
Mưa xuân như mỡ, xương thêm buốt
Ơn nước bằng trời, nợ nặng mang
Rộng phẳng đường vua thôi thắc mắc
Minh Giang lên bắc ấy Trường An


(Đặng Thế Kiệt dịch)


















008 Lưu biệt cựu khế Hoàng 留別舊契黃


Trên đường đi sang Trung Quốc, Nguyễn Du ghé thăm một người bạn cũ họ Hoàng ở vùng sông Lục Đầu. Họ Hoàng có lẽ là một võ tướng (bách chiến dư).










Tạp niên cố hữu trùng phùng nhật
Vạn lí tiền đồ nhất xúc sơ
Đạo lộ nhật lai tình vị cánh
Vân sơn biệt hậu ý hà như
Trướng nhiên phân thủ trùng quan ngoại
Lão hĩ toàn thân bách chiến dư
Tha nhật nam quy tương hội phỏng
Lục Đầu giang thượng hữu tiều ngư.



Dịch nghĩa:
Từ biệt bạn cũ họ Hoàng

Ngày gặp lại người bạn cũ ba mươi năm về trước
Cũng là ngày tôi lên đường đi muôn dặm
Chưa kể hết những nỗi dọc đường những ngày gần đây
Ở giữa núi mây, sau khi từ giã, ý bạn ra sao?
Buồn biết bao cảnh chia tay ngoài quan ải
Già mừng còn được toàn thân dù đã từng trăm trận đánh
Mai này trở về Nam, gặp lại muốn hỏi thăm nhau
Chắc bấy giờ trên sông Lục Đầu, bạn sẽ là một bác tiều phu, hay người đánh cá

Dịch thơ:
Từ biệt bạn cũ họ Hoàng

Ba mươi năm cũ gặp đây,
Lên đường vạn dặm cũng ngày tôi đi.
Tình thâm ơi, biết nói gì,
Núi mây li biệt ý thì ra sao?
Muôn trùng quan ải tay chào,
Mừng người bách chiến không sao tuổi già.
Về Nam mai mốt lân la,

Lục Ðầu bến nước hỏi tra ngư tiều.

(Đặng Thế Kiệt dịch)















007 Lạng thành đạo trung 諒城道中











Quần phong dũng lãng thạch minh đào
Giao hữu u cung, quyên hữu sào
Tuyền thủy hợp lưu giang thủy khoát
Tử sơn bất cập mẫu sơn cao
Ðoàn thành vân thạch tịch tương hậu
Hồng lĩnh thân bằng nhật tiệm dao
Quái đắc nhu tình khinh cát đoạn
Khuông trung huề hữu bút như đao

Dịch nghĩa:
Trên đường đi Lạng thành (1)

Núi non trập trùng, sóng nhảy vọt  kêu trên đá.
(Ở đây) thuồng luồng có hang kín, chim cuốc (quốc) cũng có tổ.
Nước suối hợp lại thành sông rộng.
Núi con không cao bằng núi mẹ (2).
Mây đá Đoàn thành (3) chiều hôm nay như có ý đợi ta.
Thân bằng cố hữu ở núi Hồng Lĩnh (4) càng ngày càng xa cách.
Quái lạ, nỗi nhớ nhung đằm thắm sao lại dễ cắt đứt như thế. 

Trong tráp đã mang theo ngọn bút sắc như dao (để khuây khỏa nỗi xa nhà).

Chú thích

(1) Lạng thành : thành Lạng Sơn.
(2) Núi Mẹ: Mẫu Sơn, thuộc Lạng sơn.
(3) Đoàn thành: góc tây bắc thành Lạng Sơn hình vòng tròn, nên gọi là Đoàn thành (thành hình tròn). Các sứ bộ trên đường đi sang Trung Quốc đều dừng chân ở trạm cuối này bên Việt Nam.
(4) Hồng Lĩnh : thuộc Hà Tĩnh quê Nguyễn Du.



Dịch thơ:
Trên đường đi Lạng thành

Núi trập trùng, sóng kêu trên đá
Tổ nương chim, hang đã có rồng
Suối gom dòng nhỏ thành sông
Núi con đọ núi Mẹ không cao bằng
Chiều Lạng Sơn, mây giăng đá ngóng
Hồng Lĩnh thân sao chóng cách xa
Lạ chưa, dứt nhẹ tình nhà
 

Ðoạn sầu ngọn bút theo ta bạn đường...

(Đặng Thế Kiệt dịch)















001 Long Thành cầm giả ca 龍城琴者歌


Bài ca về người gảy đàn đất Long Thành

Tiểu dẫn
Người gảy đàn đất Long Thành ấy, tên họ là gì không rõ. Nghe nói lúc nhỏ nàng học đàn Nguyễn nơi đội nữ nhạc trong cung vua Lê. Binh Tây Sơn dấy lên, các đội nhạc cũ lớp chết lớp bỏ đi. Nàng lưu lạc ở các chợ, ôm đàn gảy dạo. Những bản đàn do nàng gảy là những khúc trong cung phụng gảy cho vua nghe, người ngoài không ai biết. Cho nên tài danh của nàng lừng lẫy một thời.
Buổi thiếu niên, đến kinh đô thăm anh, tôi trọ gần Giám hồ. Cạnh đó các quan Tây Sơn tập hội nữ nhạc, danh cơ không dưới vài chục. Nàng ăn đứt mọi người với cây đàn Nguyễn, lại hát hay và khéo nói khôi hài. Cử tọa đều say mê điên đảo đua nhau ban thưởng. Những chén rượu thưởng to lớn, nàng nhận uống cạn. Tiền thưởng nhiều vô số. Vàng lụa chồng chất đầy cả đất. Lúc bấy giờ tôi núp trong bóng tối, trông thấy nàng không rõ lắm. Sau gặp lại ở nhà anh tôi. Nàng người thấp má bầu, trán giô, mặt gẫy. Không đẹp lắm, nhưng da trắng trẻo, khéo trang điểm, mày thanh, má phấn, áo màu hồng, quần sắc túy, hớn hở có bề phong tao. Tánh lại hay rượu, ưa hí hước. Đôi mắt long lanh không để một ai vào tròng. Khi ở nhà anh tôi, mỗi lần uống rượu, năng uống say vùi, nôn mửa bừa bãi, nằm lăn trên đất, bạn bè chê trách, không lấy làm điều.
Sau đó vài năm, tôi dời nhà vào Nam, ngót mấy năm liền không trở lại Long Thành. Mùa xuân năm nay, phụng mệnh đi sứ Trung Quốc, tôi đi ngang qua Long Thành. Các bạn mở tiệc tiễn tôi tại dinh Tuyên Phủ, có gọi vài chục nữ nhạc, tôi đều không quen mặt biết tên. Tiệc khởi múa hát. Kế đến tiếng đàn trổi lên, nghe trong trẻo khác thường không chút giống thời khúc. Lòng tôi kinh dị. Nhìn người gảy đàn, thì thấy thân gầy, thân khô, mặt đen, sắc trông như quỷ, áo quần toàn vải thô, bạc màu lại vá nhiều mảnh trắng, ngồi lầm lì ở cuối chiếu, không nói cũng không cười, hình trạng thật khó coi. Tôi không biết là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như có quen, nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi thăm thì ra là người trước kia đã gặp.
Than ôi! Người ấy sao đến nỗi thế này! Cúi ngửa bồi hồi, nghĩ đến cảnh cổ kim, lòng tôi cảm kích vô hạn. Đời người trăm năm, những cảnh vinh nhục buồn vui thật sao không lường được! Sau khi từ biệt, trên đường đi, cảm thương khôn nén, nên soạn bài ca để gửi hứng.


(Quách Tấn dịch)


tiểu dẫn

Long Thành cầm giả。 bất tri

tính thị。 văn kì ấu niên tòng

học bát Nguyễn cầm ư Lê cung hoa
西
tần bộ trung。 Tây San binh khởi

。 cựu nhạc tử tán。 kì nhân

lưu lạc thị triền。 hiệp kĩ dĩ

ngao。 thuộc tán bộ。 sở đàn

giai ngự tiền cung phụng khúc。 phi

ngoại nhân sở văn。 toại xưng nhất

thì tuyệt kĩ。 dư thiếu thì。
宿
tham huynh để kinh。 lữ túc Giám
西
hồ điếm。 kì bàng Tây San chư

thần đại tập nữ nhạc。 danh cơ

bất hạ sổ thập。 kì nhân độc

dĩ Nguyễn cầm thanh thiện trường。 phả

năng ca。 tác bài hài ngữ。

nhất tọa tận điên đảo。 sổ thưởng

dĩ đại bạch。 triếp tận。 triền

đầu vô toán。 kim bạch ủy tích
滿
mãn địa。 dư thì nặc thân ám

trung。 bất thậm minh bạch。 hậu

kiến chi huynh xử。 đoản thân khoát

kiểm。 ngạch đột diện ao。 bất

thậm lệ。 cơ bạch nhi thể phong

。 thiện tu sức。 đạm mi nùng

phấn。 y dĩ hồng thúy tiêu thường

。 xước xước nhiên hữu dư vận。

tính thiện ẩm。 hỉ lãng hước。

nhãn hoắc hoắc。 khuông trung vô nhất

nhân。 tại huynh gia mỗi ẩm triếp

tận túy。 ẩu thổ lang tạ。

ngọa địa thượng。 đồng bối phi chi

。 bất tuất dã。 hậu sổ tái

。 dư tòng gia nam quy。 bất

đáo Long Thành nhược thập niên hĩ。
使
kim xuân tương phụng mệnh bắc sứ。

đạo kinh Long Thành。 chư công nhục

tiễn ư Tuyên phủ nha。 tất triệu

tại thành nữ nhạc。 thiếu cơ sổ

thập。 tịnh bất thức danh diện。

điệt khởi ca vũ。 kế văn cầm

thanh thanh việt。 huýnh dị thì khúc

。 tâm dị chi。 thị kì nhân

。 nhan sấu thần khô。 diện hắc

。 sắc như quỷ。 y phục tịnh

thô bố。 bại hôi sắc。 đa

bạch bổ。 mặc tọa tịch mạt。

bất ngôn diệc bất tiếu。 kì trạng

đãi bất kham giả。 bất phục tri
 

vi thùy hà。 duy ư cầm thanh

trung tự tằng tương thức。 trắc nhiên

ư tâm。 tịch tán。 chất chi

nhạc nhân。 tức kì nhân dã。

ta hồ。 thị nhân hà chí thử

da。 phủ ngưỡng bồi hồi。 bất

thắng kim tích chi cảm。 nhân sanh

bách niên。 vinh nhục ai lạc kì

khả lượng da。 biệt hậu。 nhất

lộ thượng。 thâm hữu cảm yên。

nhân ca dĩ thác hứng。


Nguyên văn:


Long Thành cầm giả ca


Long Thành giai nhân

tính thị bất kí thanh

độc thiện Nguyễn cầm

cử thành chi nhân dĩ cầm danh

học đắc tiên triều cung trung cung

phụng khúc

tự thị thiên thượng nhân gian đệ

nhất thanh

dư ức thiếu niên tằng nhất kiến

Giám hồ hồ biên dạ khai yến

thử thì tam thất chánh phương niên

hồng trang yểm ái đào hoa diện

đà nhan hàm thái tối nghi nhân

lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến

hoãn như sơ phong độ tùng lâm

thanh như song hạc minh tại âm

liệt như Tiến Phúc bi đầu toái

phích lịch

ai như Trang Tích bệnh trung vi

Việt ngâm

thính giả mĩ mĩ bất tri quyện
便
tiện thị Trung Hòa đại nội âm
西滿
Tây San chư thần mãn tọa tận

khuynh đảo

triệt dạ truy hoan bất tri bão

tả phao hữu trịch tranh triền đầu

nê thổ kim tiền thù thảo thảo

hào hoa ý khí lăng vương hầu

Ngũ Lăng thiểu niên bất túc đạo

tịnh tương tam thập lục cung xuân

hoạt tố Trường An vô giá bảo

thử tịch hồi đầu nhị thập niên
西
Tây San bại hậu dư nam thiên

chỉ xích Long Thành bất phục kiến

hà huống thành trung ca vũ diên
使
Tuyên phủ sứ quân vi dư trùng

mãi tiếu

tịch trung ca kĩ giai niên thiếu

tịch mạt nhất nhân phát bán hoa

nhan sấu thần khô hình lược tiểu

lang tạ tàn mi bất sức trang

thùy tri tựu thị đương thì thành

trung đệ nhất diệu

cựu khúc thanh thanh ám lệ thùy

nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi

mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên

tiền sự

Giám hồ tịch trung tằng kiến chi

thành quách thôi di nhân sự cải

kỉ xứ tang điền biến thương hải
西
Tây San cơ nghiệp tận tiêu vong

ca vũ không di nhất nhân tại

thuấn tức bách niên năng kỉ thì

thương tâm vãng sự lệ triêm y

Nam Hà quy lai đầu tận bạch

quái để giai nhân nhan sắc suy

song nhãn trừng trừng không tưởng tượng

khả liên đối diện bất tương tri 

Dịch nghĩa:
Bài ca về người gảy đàn đất Long Thành

Người đẹp đất Long Thành
Không nghe tên họ
Riêng thạo đàn Nguyễn (1)
Người trong thành bèn lấy chữ Cầm mà đặt tên.
Nàng học được khúc Cung Phụng trong cung tiền triều (2)
Đó là những khúc đàn hay nhất trời đất.
Tôi nhớ lúc thiếu thời đã gặp một lần
Bên bờ hồ Giám (3) trong một cuộc dạ yến,
Lúc đó nàng khoảng hai mươi mốt tuổi,
Áo hồng ánh lên mặt hoa đào,
Má hừng rượu, vẻ ngây thơ, rất dễ thương,
Năm cung réo rắt, theo ngón tay mà thay đổi điệu.
Tiếng khoan như gió thoảng qua rừng thông,
Tiếng trong như đôi hạc kêu trên cao thẳm,
Tiếng lạnh như sét đánh tan bia Tiến Phúc (4),
Tiếng buồn như Trang Tịch (5) ngâm tiếng Việt lúc bệnh,
Người nghe say sưa không biết mỏi,
Đó là những khúc đàn trong đại nội Trung Hòa (6).
Các quan Tây Sơn trong tiệc đều say mê điên đảo,
Mải vui suốt đêm không biết chán.
Bên tả bên hữu tranh nhau vãi thưởng,
Tiền bạc coi rẻ như đất bùn.
Ý khí đào hoa át cả các bậc vương hầu,
Đám thiếu niên đất Ngũ Lăng (7) không đáng kể.
Tưởng chừng ba mươi sáu cung xuân (8),
Chung đúc một vật báu vô giá đất Trường An.
Nhớ lại từ bữa tiệc ấy đến nay đã hai mươi năm,
Sau khi Tây Sơn bại vong, tôi vào Nam,
Long Thành trong gang tấc không được thấy lại,
Huống hồ tiệc múa hát ở trong thành.
Quan Tuyên Phủ (9) vì tôi bày cuộc mua cười,
Trong đám ca kĩ đều trẻ tuổi.
Duy ở cuối chiếu có một nàng tóc đã hoa râm.
Mặt gầy thần khô hình bé nhỏ,
Đôi mày phờ phạc không điểm tô,
Ai biết đó là người trước kia nổi danh tài hoa đệ nhất trong một thời,
Khúc xưa đàn lên, tôi tuôn nước mắt ngầm theo từng tiếng.
Tai lắng nghe mà lòng chua xót!
Bỗng nhớ lại chuyện hai mươi năm xưa
Đã từng thấy trong chiếu tiệc bên hồ Giám.
Thành quách suy dời, việc người đổi,
Bao nương dâu đã biến thành biển xanh.
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan sạch,
Trong làng múa hát còn sót lại một người!
Trăm năm thấm thoát trong một hơi thở một nháy mắt
Cảm thương việc cũ lệ thấm áo
Từ Nam trở về, đầu tôi bạc trắng!
Không trách người đẹp nhan sắc suy tàn.
Hai mắt trừng trừng luống tưởng lại chuyện cũ
Khá thương giáp mặt nhau mà không nhận được nhau!

(Quách Tấn dịch xuôi)

Chú thích

(1) Đàn Nguyễn: Đàn Nguyệt. Gọi như vậy là vì đàn nguyệt do Nguyễn Hàm, một trong thất hiền vườn Trúc đời Tấn sáng chế.
(2) Tiền triều: Triều nhà Lê. Vì lúc đó thuộc triều Tây Sơn.
(3) Giám hồ: Còn gọi là hồ Văn hay hồ Giám ở phía trước cổng vào Văn Miếu, Hà Nội.
(4) Bia Tiến Phúc: Bia dựng ở Nhiêu Châu, tỉnh Giang Tây, chữ rất đẹp. Đời nhà Tống có một người học trò nghèo dâng lên Phạm Trọng Yêm một bài thơ. Để giúp đỡ, Phạm cho phép người học trò rập một nghìn bản chữ bia để bán lấy tiền. Người học trò vừa đến nơi thì bia bị trời đánh vỡ tan.
(5) Trang Tịch: Người nước Việt, làm quan nước Sở. Ngày thường nói tiếng Sở, nhưng lúc bệnh năng thường ngâm thơ bằng tiếng nước Việt.
(6) Đại nội Trung Hòa: Cung nhà Lê.
(7) Ngũ Lăng: Địa danh, có năm lăng tẩm của các vua nhà Hán. Nơi đây, bọn hào hoa phú quý thường tụ hội.
(8) Tam thập lục cung: Trong đền vua ngày xưa bên Tàu có 36 cung chứa đầy mĩ nữ.
(9) Quan Tuyên Phủ: Quan trấn thủ Bắc thành thời Nguyễn.


Dịch thơ:
Bài ca về người gảy đàn đất Long Thành

Người đẹp đất Long Thành
Tên họ chi ta không biết rõ
Thạo Nguyễn cầm nên có tên Cầm
Khúc kia Cung Phụng nhất trần
Ngày thơ được học nhạc thần chầu vua
Đã một lần thuở xưa gặp gỡ
Bên bờ hồ cuộc dạ yến sang
Tuổi hai mươi mốt cô nàng
Mặt hoa áo thắm còn tham rượu nồng
Theo ngón tay năm cung réo rắt
Tiếng khoan như gió mát rừng thông
Hạc kêu cao thẳm tiếng trong
Mạnh như sét đánh vỡ tung bia mồ
Như Trang Tịch ngâm thơ tiếng Việt
Người nghe đều mê mệt lời ca
Khúc đâu đại nội Trung Hòa
Tây Sơn quan chức nghe mà đảo điên
Mải vui suốt cả đêm không chán
Hai bên người tranh cạnh thưởng tài,
Tiền như bùn đất vãi rơi.
Đào hoa ý khí vượt nơi vương hầu
Đám Ngũ Lăng còn đâu đáng kể
Băm sáu cung xuân để mà coi
Đúc chung vật báu trên đời
Của kia vô giá đất trời Trường An
Nay đã hai mươi năm tiệc ấy
Sau Tây Sơn chiến bại, vào Nam
Long Thành chẳng thấy tấc gang
Huống chi tiệc múa mơ màng thành xưa
Quan Tuyên Phủ vui mua cuộc hát
Đám ca cơ tươi mát xuân xanh
Mà sao một mái hoa râm
Mặt gầy khô héo nhỏ thân hình hài
Không điểm tô nét mày phờ phạc
Ai biết từng đệ nhất tài danh
Khúc xưa réo rắt dây đàn
Nghe tuôn nước mắt từng làn âm thanh
Tai lắng nghe mà đành chua xót
Hai mươi năm chuyện trước là đây
Bên hồ chiếu tiệc mê say
Đã từng gặp gỡ những ngày thơ ngây
Thành quách suy việc thay người đổi
Bao nương dâu thành bãi biển xanh
Tây Sơn cơ nghiệp tan tành
Trong làng múa hát còn đành một ai
Một cuộc thế không đầy chớp mắt
Cảm việc xưa lệ ướt áo này
Từ Nam về tóc trắng mây
Trách chi người đẹp tàn phai má đào
Trừng trừng hai mắt nhìn nhau
Cố nhân chẳng biết khác nào người dưng

(Đặng Thế Kiệt dịch thơ)