Search This Blog

Tuesday, 16 June 2015

073 Độ Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng 渡淮有感文丞相










 

Độ Hoài (1) hữu cảm Văn Thừa Tướng (2)

Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên
Thừa tướng cô trung vạn cổ truyền
Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ
Trùng lai Giang Tả cánh hà niên
Ai trung xúc xứ minh kim thạch
Oán huyết quy thời hóa đỗ quyên (3)
Nam Bắc chỉ kim vô dị tục
Tịch dương vô hạn vãng lai thuyền.


Chú thích


(1) Độ Hoài : Sông Hoài thuộc phần đất hai tỉnh An Huy , Giang Tô . Khi nước Tống bị người Kim đánh bại, phải cắt đất để cầu hòa, lấy sông Hoài làm ranh giới. Từ sông Hoài trở lên Bắc thuộc về Kim, từ sông trở xuống Nam thuộc về nhà Tống. Từ ấy nhà Tống gọi là Nam Tống, còn gọi là miền Giang Tả vì ở tả ngạn sông Hoài.
(2) Văn Thừa Tướng : Tức Văn Thiên Tường (1236-1282), hiệu Văn Sơn , làm Thừa Tướng nhà Nam Tống . Khi quân Nguyên xâm chiếm nước Tống, Văn Thiên Tường khởi binh chống cự. Quân Tống thua, nhà Tống mất. Văn Thiên Tường bị bắt giam ở Yên Kinh 4 năm, không chịu khuất phục nên bị giết. Văn Thiên Tường có tập thơ nhan đề là Chỉ Nam Lục Chỉ Nam hậu lục , tả những cảnh ngộ đã trải qua khi chạy nạn. Lời văn bi thiết. Trong thơ Văn Thiên Tường có câu:

Tùng kim biệt khước Giang Nam lộ
Hóa tác đề quyên đới huyết quy



(Từ nay biệt hẳn đường Giang Nam
Sẽ hóa thành chim quốc đeo máu mà về)
(3) Đỗ quyên : Chim cuốc. Có tên nữa là Tử Quy .

Dịch nghĩa:
Qua sông Hoài nhớ Văn Thừa Tướng


Phong cảnh núi sông vẫn còn y như cũ
Tấm lòng cô trung của thừa tướng muôn thuở lưu truyền
Vượt qua khỏi sông Hoài, không còn là đất cũ nữa
Biết đến năm nào mới trở lại miền Giang Tả?
Nỗi thương cảm đến chốn nào đều kêu lên tiếng vàng tiếng đá
Máu oán hận lúc trở về hóa thành chim quốc
Ngày nay phong tục miền bắc miền nam không khác nhau nữa
Dưới bóng chiều tà, thuyền qua lại tấp nập


Dịch thơ:
Qua sông Hoài nhớ Văn Thừa Tướng


Non sông ngày trước cảnh còn y,
Một phiến trung hồn muôn thuở ghi.
Qua khỏi Hoài Hà đành hết đất,
Trở về Giang Tả những chờ khi.
Lòng thơm chạm trổ lời kim thạch,
Máu hận trào sôi kiếp tử quy.
Phong tục Bắc Nam rày chẳng khác,
Ghe thuyền lai vãng nhộn tà huy.


(Quách Tấn dịch)






Tham khảo


Tố Như thi, Quách Tấn trích dịch, An Tiêm tái bản, Paris, France, 1995 (trang 209-211).








Monday, 15 June 2015

072 Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm Hầu 渡淮有感淮陰侯






谿


滿

 

Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm Hầu (1)

Tầm thường nhất phạn báo thiên câm (2)
Ngũ tải quân thần phận nghị thâm
Thôi thực giải y (3) nan bội đức
Tàng cung phanh cẩu (4) diệc cam tâm
Bách Man (5) khê động lưu miêu duệ
Lưỡng Hán sơn hà biến cổ câm
Trù trướng giang đầu tư vãng sự
Đoạn vân suy thảo mãn (6) Hoài Âm


Chú thích


(1) Hoài Âm Hầu : Tức Hàn Tín (230 trước CN - 196 trước CN), người đất Hoài Âm (thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay).
(2) Nhất phạn báo thiên kim : Hàn Tín thuở trẻ nhà nghèo, được bà Phiếu Mẫu cho bữa cơm. Sau thành công, Hàn Tín trả ơn nghìn vàng.
(3) Thôi thực giải y : Hàn Tín giúp Lưu Bang lập nên nghiệp đế thành Hán Cao Tổ. Hán Cao Tổ phong Hàn Tín làm Sở Vương. Người nước Tề là Khoái Thông biết rằng cái thế hơn thua trong thiên hạ tùy thuộc ở nơi Hàn Tín (...), muốn thuyết phục Hàn Tín cùng với Hán, Sở tạo thành cái thế chân vạc. Hàn Tín nói: "Hán vương đãi tôi rất hậu, nhường xe cho tôi đi, nhường áo cho tôi mặc, nhường bữa cho tôi ăn (...); tôi há dám đuổi theo mối lợi mà quay lưng lại với điều nghĩa!"
(4) Tàng cung phanh cẩu : Sau Hàn Tín bị nghi oan làm phản, bị Hán vương giáng làm Hoài Âm Hầu, rồi bị Lữ Hậu giết cả ba họ. Quả đúng như người ta nói : "Con thỏ tinh khôn mà chết, thì con chó săn giỏi bị luộc, đám chim bay cao mà hết, thì chiếc cung tốt xếp xó; nước địch mà phá xong, thì người mưu thần chết." (Xem Sử ký của Tư Mã Thiên, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch, Lá Bối xuất bản, 1972, Saigon, Việt Nam, trang 573-580).
(5) Bách Man ... miêu duệ 谿: Tương truyền, để giúp Hàn Tín có con cháu nối dõi, hai người bạn Tiêu Hà và Khoái Triệt (tức là Khoái Thông — viết không kiêng tên húy của Hán Vũ Đế là Lưu Triệt ) đã che giấu nàng hầu đang có mang của Hàn Tín trong rừng núi phương nam, ở đất Bách Man.
(6) mãn 滿: có bản chép là cách .


Dịch nghĩa:
Qua sông Hoài, nhớ Hàn Tín


Được cho một bữa cơm thường, đền ơn ngàn vàng
Năm năm trời, tình nghĩa vua tôi thật thắm thiết
Ơn đức nhường cơm sẻ áo thật khó quên
Dù chịu nạn 'cất cung giết chó' cũng cam lòng
Trong khe động đất Bách Man còn để lại dòng giống
Núi sông hai nhà Hán thay đổi theo thời gian
Qua bến sông, ngậm ngùi nhớ chuyện cũ
Mây rời rạc, cỏ úa tàn tràn đầy đất Hoài Âm


Dịch thơ:
Qua sông Hoài, nhớ Hàn Tín


Bát cơm Phiếu Mẫu trả nghìn vàng
Thắm thiết vua tôi nghĩa nặng mang
"Sẻ áo nhường cơm" thêm cảm đức
"Giấu cung giết chó" cũng cam lòng
Đất Man khe động còn con cháu
Nhà Hán cơ đồ đâu bóng vang
Bến nước ngậm ngùi ôn chuyện cũ
Rạc rời mây cỏ úa Hoài Âm.


(Đặng Thế Kiệt dịch)








Sunday, 14 June 2015

071 Ngẫu hứng 偶興



滿


 
Tín Dương thành thượng động bi già
Thu mãn Hà Nam bách tính gia
Vạn lí hương tâm hồi thủ xứ
Bạch vân (1) nam hạ bất thăng đa


Chú thích


(1) Bạch vân : Ðịch Nhân Kiệt , đời Ðường, chỉ đám mây trắng nói nhà ta ở dưới kia kìa.


Dịch nghĩa:
Chợt hứng


Trên thành Tín Dương vang lên tiếng kèn ai oán
Thu tràn ngập nhà (trăm họ) dân Hà Nam
Lòng nhớ quê xa vạn dặm, quay đầu lại
Mây trắng ở phía nam nhiều biết là bao


Dịch thơ:
Ngẫu hứng


Tín Dương ai oán tiếng kèn,
Hơi thu tràn ngập khắp miền nhân gian.
Cố hương cách trở muôn ngàn,
Kìa trông mây trắng vô vàn dưới kia.


(Đặng Thế Kiệt dịch)






070 Tín Dương tức sự 信陽即事









西

 

Tín Dương (1) tức sự

Hà Nam thủ Tín Dương
Thiên hạ thử trung ương (2)
Phiến thạch tồn Thân (3) quốc
Trùng sơn hạn Sở cương
Mã minh tư tự mạt
Dân thực bán bỉ khang
Bạch phát thu hà hận
Tây phong biến dị hương


Chú thích


(1) Tín Dương : Tên huyện ở phía nam tỉnh Hà Nam .
(2) Trung ương : Thời cổ, Hà Nam ở giữa chín châu (tức Trung Quốc).
(3) Thân quốc : Một nước chư hầu của nhà Chu, ở đất Trần (nay thuộc Hà Nam, Hoài Dương ).


Dịch nghĩa:
Tức cảnh ở Tín Dương


Huyện Tín Dương đầu tỉnh Hà Nam
Đây là trung tâm của thiên hạ
Phiến đá còn ghi dấu nước Thân
Núi non trùng điệp ngăn cách bờ cõi nước Sở
Ngựa kêu đòi ăn thóc lúa
Dân ăn nửa là những hạt trấu lép
Tóc trắng, thu đến, giận làm sao
Gió tây thổi khắp trên quê người


Dịch thơ:
Tức cảnh ở Tín Dương


Tín Dương đầu tỉnh Hà Nam,
Là đây thiên hạ trung tâm cổ thời.
Nước Thân ghi dấu đá rời,
Núi non trùng điệp muôn đời Sở xưa.
Ngựa kêu ăn lúa hay chưa,
Dân cơm trộn trấu cho vừa hẩm hiu.
Thu về giận biết bao nhiêu,
Gió tây tóc trắng đìu hiu quê người.


(Đặng Thế Kiệt dịch)








Saturday, 13 June 2015

118 & 119 Vương Thị tượng 王氏像


(I)





婿



 

Vương Thị (1) tượng

Thiệt trường tam xích cánh hà vi
Hảo dữ quyền gian bị xướng tùy
Hậu hoạn chính ân cầm hổ nhật (2)
Tiền công an vấn ẩm long kì (3)
Nhất sinh tâm tích đồng phu tế
Thiên cổ hình hài nhục nữ nhi
Để sự tưởng lai "mạc tu hữu" (4)
Khuê trung tư ngữ cánh thùy tri (5)


Chú thích


(1) Vương Thị : Vợ Tần Cối . Xem bài Tần Cối tượng
.
(2) Cầm hổ nhật : Ngày bắt được cọp. Vợ chồng Tần Cối muốn hòa với người Kim, tìm cách bắt Nhạc Phi để trừ hậu hoạn.
(3) Long kì : Chỉ Hoàng Long , kinh đô nước Kim. Nhạc Phi hẹn với tướng sĩ uống rượu mừng chiến thắng quân Kim ở đây.
(4) Mạc tu hữu : Tần Cối bắt giam Nhạc Phi, nhưng không kết tội được. Khi Hàn Thế Trung hỏi, Tần Cối trả lời: "Mạc tu hữu" (không cần có tội). Ðời sau gọi đó là "tam tự ngục" (án ba chữ).
(5) Khuê trung tư ngữ : "Ðêm qua rủ rỉ rù rì, Tiếng nặng bằng bấc, tiếng chì bằng bông" (Ca dao Việt Nam).


Dịch nghĩa:
Tượng Vương Thị (bài I)


Lưỡi dài ba tấc để làm chi
Khéo cùng quyền thần gian ác kết nên vợ chồng
Ngày bắt được cọp chính là ngày trừ được cái lo về sau
Hỏi làm chi cái công ước hẹn uống rượu mừng (thắng trận) ở Hoàng Long
Một đời bụng dạ giống như chồng
Nghìn năm hình hài làm nhục cho phụ nữ
Ngẫm lại cái án "không cần tội" (án ba chữ)
Trong phòng khuê thủ thỉ nói riêng, ai biết được


Dịch thơ:
Tượng Vương Thị (bài I)


Lưỡi dài ba tấc để làm gì
Nên vợ gian thần khéo tỉ tê
Hậu hoạn trừ ngày bắt được cọp
Hoàng Long hẹn buổi tiếc mà chi
Một đời bụng dạ y chồng vợ
Nghìn năm thân xác nhục thê nhi
Ngẫm lại án xưa "ba chữ tội"
Phòng khuê ai biết có rù rì


(II)










 

Vương Thị tượng
 
Thâm đồ mật toán thắng phu quân
Ưng thị thần kê đệ nhất nhân
Bất lạn dĩ sinh tam thốn thiệt
Thuần cương hoàn đắc vạn niên thân
Xướng tùy tận đạo ưng vô hối
Kĩ lưỡng đồng niên cánh khả thân
Mạc đạo nữ nhi vô lực lượng
Dã tằng hám phá nhạc gia quân


Chú thích


(6) Nhạc gia quân : Tần Cối giết Nhạc Phi trong ngục, quân của Nhạc Phi tan rã.


Dịch nghĩa: 

Tượng Vương Thị (bài II)

Mưu tính thâm hiểm hơn chồng
Đúng là "gà mái gáy sáng" bậc nhất
Sinh ra đã có ba tấc lưỡi "bất hủ"
Lại có được tấm thân muôn năm toàn bằng gang thép
Giữ trọn đạo vợ chồng, không có gì hối tiếc
Tài khéo gian xảo cùng chồng càng thêm thân mật
Chớ bảo đàn bà không có sức mạnh
(Y thị) đã từng phá tan quân của họ Nhạc


Dịch thơ:
Tượng Vương Thị (bài II)


Mưu sâu mẹo hiểm vượt xa chồng
Hạng nhất loài "gà mái gáy đông"
Ba tấc lưỡi dài càng uốn éo
Nghìn năm tượng sắt mãi đây còn
Vợ chồng trọn đạo không gì hối
Gian xảo đồng tình mấy kẻ hơn
Chớ bảo đàn bà không sức mạnh
Đã từng phá vỡ Nhạc quân vương


(Đặng Thế Kiệt dịch)









Friday, 12 June 2015

116 & 117 Tần Cối tượng 秦檜像


photo dtk 2005 Hàng Châu
(I)

殿







 

Tần Cối (1) tượng (bài I)

Điện cối (2) hà niên trùy tác tân
Khước lai y bạng Nhạc Vương phần
Thị phi tẫn thuộc thiên niên sự
Đả mạ hà thương nhất giả thân
Như thử tranh tranh chân thiết hán
Nại hà mĩ mĩ sự kim nhân
Thùy vân ư thế vô công liệt
Vạn cổ do năng cụ loạn thần


Chú thích


(1) Tần Cối : Ngự sử Trung thừa đời Tống Khâm Tông . Tần Cối chủ hòa với người Kim, sát hại Nhạc Phi và nhiều trung thần, nghĩa sĩ nhà Tống. Chết được phong là Trung Vương . Đến đời Tống Minh Tông , Cối bị xóa tước vương và đặt tên thụy là Mâu Xú . Người ời sau dựng tượng Tần Cối quỳ chịu tội ở chân miếu Nhạc Phi (Xem Nhạc Vũ Mục mộ
). Người ta thường lấy gậy đánh và nhổ vào mặt tượng.
(2) Điện cối 殿: Truyền thuyết ở bên điện vua Tống Huy Tông có một cây cối sinh ra nấm ngọc, người ta cho là điềm Tần Cối được trọng dụng, để sau làm mất nhà Tống. Sau cây cối đó bị chẻ làm củi.


Dịch nghĩa:
Tượng Tần Cối
(bài I)

Cây cối bên điện vua bị chẻ làm củi năm nào
Sao đến nương tựa bên mộ Nhạc Vương
Đúng hay sai, là chuyện nghìn năm phán xét
Đánh mắng đâu có làm đau đớn một cái thân giả
Coi cứng cáp thế kia, thật là con người sắt thép
Sao lại quỵ lụy đi thờ người Kim
Ai bảo nó không có công trạng gì ở đời?
Muôn đời lấy đó làm (làm gương) cho loạn thần phải sợ


Dịch thơ:
Tượng Tần Cối


Cối kia làm củi tự năm nào
Quẩn mộ Nhạc Phi hỏi cớ sao?
Định luận nghìn năm hay phải trái
Đánh la một xác chẳng buồn đau
Bề ngoài sắt thép coi ra vẻ
Trước mặt người Kim lại cúi đầu
Ai bảo tượng này vô tích sự?
Loạn thần ngó thấy ớn nghìn sau


(II)










Tần Cối tượng

Cách Thiên (3) các hủy ngọc lâu tàn
Do hữu ngoan bì tại thử gian
Nhất thế tử tâm hoài đại độc
Thiên niên sinh thiết phụ kì oan
Ngục trung dĩ tiễn sinh tiền huyết (4)
Giai hạ đồ tru tử hậu gian
Đắc dữ trung thần đồng bất hủ
Tề thiên kì phúc thái vô đoan


Chú thích

(3) Cách Thiên các : Tần Cối ở gác Cách Thiên, do câu Nhất đức cách thiên (Đức cảm được lòng trời) của vua Tống Huy Tông đề.
(4) Sinh tiền huyết : Tần Cối chủ hòa với người Kim, giết Nhạc Phi trong ngục
(Xem Nhạc Vũ Mục mộ ).

Dịch nghĩa:
Tượng Tần Cối (bài II)

Gác Cách Thiên đổ nát, lầu ngọc tan hoang
Vẫn còn tên gian ngu bướng càn rở ở đây
Cả một đời trái tim chết chứa nọc độc
Nghìn năm cục sắt sống mang nỗi oan kì lạ
Trong ngục (kẻ trung thần) khi sống đã đổ máu
Dưới thềm hành tội tên gian ác đã chết rồi
Được với bậc trung thần cùng bất hủ
Cái phúc lạ tày trời đó thật oái ăm vô lí

Dịch thơ:
Tượng Tần Cối (bài II)

Gác Thiên lầu ngọc đã hoang tàn
Luẩn quẩn nơi đây gã đại gian
Một kiếp trái tim đầy nọc độc
Nghìn năm tượng sắt chịu niềm oan
Trung thần trong ngục tan thân chết
Ác tướng dưới thềm kể tội mang
Cùng với người trung còn mãi mãi
Tày trời phúc lạ nói sao đang 

 

(Đặng Thế Kiệt dịch)



Tuesday, 9 June 2015

115 Nhạc Vũ Mục mộ 岳武穆墓











Nhạc Vũ Mục (1) mộ

Trung Nguyên bách chiến xuất anh hùng
Trượng bát thần thương lục thạch cung
Tướng phủ dĩ thành tam tự ngục (2)
Quân môn do tích thập niên công
Giang hồ xứ xứ không Nam quốc
Tùng bách tranh tranh ngạo bắc phong
Trướng vọng Lâm An (3) cựu lăng miếu
Thê Hà (4) sơn tại mộ yên trung

 
Chú thích


(1) Nhạc Vũ Mục : Tức Nhạc Phi , tướng tài thời Nam Tống . Sau bị Tần Cối hại giết. Đến đời Hiếu Tông , được phục chức và đặt tên thụy là Vũ Mục. (Xem: Yển thành Nhạc Vũ Mục ban sư xứ ).
(2) Tam tự ngục : Án ba chữ. Tần Cối bắt giam Nhạc Phi. Khi Hàn Thế Trung hỏi kết tội gì, Tần Cối trả lời: "Không cần tội" (mạc tu hữu ). Đời sau gọi đó là "án ba chữ".
(3) Lâm An : Kinh đô Nam Tống (nay là Hàng Châu ).
(4) Thê Hà : Tên núi ở Hàng Châu (tỉnh Chiết Giang 江). Dưới chân núi có mộ Nhạc Phi.


Dịch nghĩa:
Mộ Nhạc Vũ Mục


Bậc anh hùng xuất hiện trong trăm trận ở Trung Nguyên
Thương thần dài trượng tám, cung nặng sáu thạch
Ở phủ tướng đã khép vào "tội ba chữ"
Nơi ba quân còn tiếc công mười năm chiến đấu
Sông hồ khắp nơi thấy trống vắng trời
nước Nam 
Cây tùng cây bách hiên ngang ngạo nghễ trước gió bắc
Buồn trông lăng miếu cũ ở Lâm An
Núi Thê Hà chìm trong khói chiều


Dịch thơ:
Mộ Nhạc Vũ Mục


Thương dài trượng tám, cung ngàn cân
Bách chiến Trung Nguyên tướng xuất thần
Ba chữ tội dành nơi phủ tướng
Mười năm công bỏ chốn ba quân
Sông hồ vắng bóng trời Nam Tống
Tùng bách đương đầu gió bắc căm
Buồn ngóng kinh thành lăng miếu cũ
Thê Hà núi ngập khói chiều hôm


(Đặng Thế Kiệt dịch)