Search This Blog

Friday, 17 July 2015

088 Liêm Pha bi 廉頗碑




























 

Liêm Pha (1) bi

Liêm Pha vong khứ Võ An (2) tướng
Tứ thập vạn nhân đồng huyệt táng
Nhũ xú tiểu nhi dị ngôn binh (3)
Nhất quốc trường thành (4) đồ tự táng
Kí khổn trọng nhậm tu lão thành
Nội thẩm quốc thế ngoại địch tình
Sở dĩ lâm địch năng chế thắng
Đoan tại quyên cừu tri phụ kinh
Nhất quốc lưỡng hổ (5) bất khả phạm
Nhị thập dư niên thùy dữ tranh
Tướng quân tại thời, Triệu dĩ trọng
Tướng quân khứ thời linh Triệu khinh
Sở hận sàm nhân chức thê phỉ
Hà tu nhất thực tam di thỉ (6)
Bạch đầu khứ hậu bất trùng lai
Hàm Đan (7) chi sự khả tri hĩ
Triệu vong Tần kế tam thiên niên
Tướng quân danh tự chí kim truyền
Ma sa cổ kiệt tam thái tức
Bột bột tráng khí tưởng kiến kỳ sinh tiền
Kim nhân bất thiểu thực đa nhục (8)
Cơ linh gia dưỡng vô di súc
Thanh bình thời tiết vô chiến tranh
Nhất khẩu hùng đàm bất sổ Liêm Pha dữ Lí Mục (9)


Chú thích

 
(1) Liêm Pha : Liêm Pha là một lương tướng nước Triệu. Đời Triệu Văn Vương , năm thứ 16, Liêm Pha giúp Triệu đánh Tề đại bại, lấy được Dương Tân và được lãnh chức thượng khanh, nổi tiếng với chư hầu là người có dũng khí.
(2) Võ An : Tức Vũ An Quân , tức Bạch Khởi (?-257 trước T.L.), tướng Tần. Đã đánh hơn 70 thành. Đánh bại quân Triệu Quát, chôn sống hơn 40 vạn hàng binh Triệu.
(3) Nhũ xú tiểu nhi : Chỉ Triệu Quát. Triệu Quát từ nhỏ học binh pháp, bàn quân sự, cho rằng thiên hạ chẳng có ai địch nổi mình. Quát từng bàn quân sự với cha, Triệu Xa không bắt bẻ, vặn vẹo nổi, nhưng vẫn không cho là phải. Mẹ Quát hỏi lý do, Xa đáp: "Việc binh cực kỳ nguy hiểm, mà Quát lại khinh thường. Nước Triệu không cử Quát làm tướng thì thôi, chứ cử nó thì cái người làm vỡ quân Triệu tất là nó." Quả thực, sau đó, Triệu Quát lên thay Liêm Pha, bao nhiêu chương trình biện pháp cũ thay đổi hết, nhiều quan quân liêu thuộc bị thuyên chuyển. Tướng Tần là Bạch Khởi được tin, bèn dùng chiến thuật bất thường, cho quân mai phục rồi vờ thua chạy, chẹn đường tiếp tế và cắt quân Triệu làm đôi ; lòng quân Triệu li tán. Được hơn bốn mươi ngày thì quân Triệu cạn lương, bị đói. Triệu Quát tung số quân tinh nhuệ nhất ra mặt trận và đích thân điều khiển. Quân Tần bắt chết Triệu Quát. Quân Quát thua cả mấy mươi vạn người đầu hàng và đều bị quân Tần chôn sống hết.
(4) Nhất quốc trường thành : Chỉ Liêm Pha, trường thành của cả nước.
(5) Nhất quốc lưỡng hổ : Lạn Tương Như người nước Triệu, là xá nhân của viên thái giám trưởng trong cung. Nhờ trí dũng của Lạn Tương Như mà vua Triệu Huệ Văn Vương không mất viên ngọc Hòa-bích rất quí vào tay vua Tần Chiêu Vương. Khi được thăng làm Thượng khanh, hơn cả đại tướng Liêm Pha, Liêm Pha ganh tị, nhất định tìm cách làm nhục Tương Như. Lạn Tương Tư vẫn nhún nhường, khi ra đường, thấy bóng Liêm Pha, ngoặt xe lẩn tránh. Tương như nói: "Sở dĩ nước Tần hùng cường kia không dám đem quân đánh Triệu, là vì ở đây còn có hai con hổ (chỉ Lạn Tương Như và Liêm Pha). Tương Như tôi nhẫn nhục nhường nhịn, là vì để mối nguy của quốc gia lên trên cái hiềm thù cá nhân đấy". Lời nói này đến tai Liêm Pha, Liêm Pha cởi trần, lưng mang cành có cây gai đến nhà Tương Như tạ tội.
(6) Nhất thực tam di thỉ : Kẻ thù của Liêm Pha là Quách Khai đút lót vàng bạc cho sứ giả để sứ giả nói xấu Liêm Pha. Sứ giả gặp Liêm Pha; Liêm Pha ăn một bữa hết một đấu gạo và mươì cân thịt, mặc áo giáp lên ngựa, tỏ ra mình vẫn còn dùng được. Sứ giả về báo với Triệu Vương rằng: "Liêm tướng quân tuy già nhưng ăn còn khỏe. Có điều ngồi với tôi một lúc mà bỏ đi đại tiện đến ba lần."
(7) Hàm Đan : Kinh đô nước Triệu, nay thuộc tỉnh Trực Lệ.
(8) Thực đa nhục : Ăn nhiều thịt. Xem chú thích (6) ở trên.
(9) Lí Mục : Tướng giỏi ở biên giới phía bắc nước Triệu. Lí Mục đánh Hung Nô, quân Hung Nô mười năm không dám phạm biên giới.


(Xem Sử Kí của Tư Mã Thiên,
Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Lá Bối tái bản lần I, 1972, Saigon, Việt Nam, trang 478-499)

Dịch nghĩa:
Bia Liêm Pha


Liêm Pha bỏ đi, Võ An làm tướng
Bốn chục vạn người bị chôn sống cùng một huyệt
Trẻ con hoi sữa nói việc dùng binh một cách dễ dàng
Bức trường thành của một nước đành phế bỏ
Trọng trách ngoài bờ cõi nên giao lại cho bậc lão thành
Trong hiểu rõ thế nước, ngoài nắm vững tình hình quân địch
Sở dĩ (người ấy) gặp địch có thể giành được thắng lợi
Ấy là vì biết quên thù riêng, mang roi gai (lại tạ tội)
Một nước có hai hổ, không kẻ nào có thể xâm phạm được
Trên hai chục năm, ai tranh nổi (với Liêm Pha)
Thời còn tướng quân, nước Triệu được coi trọng
Thời tướng quân mất đi, nước Triệu bị coi thường
Đáng giận kẻ gièm pha kiếm chuyện thêu dệt
Sao lại bịa chuyện một bữa ba lần són phân
Sau khi người bạc đầu ra đi không trở lại nữa
Việc Hàm Đan ra thế nào có thể biết được rồi
Triệu mất, Tần nối tiếp đã ba nghìn năm
Tên tuổi của tướng quân vẫn còn truyền lại
Ta chùi bia cổ để đọc, than thở mãi
Tưởng như thấy hùng khí của tướng quân vẫn bừng bừng như lúc sống
Người thời nay không ít kẻ ăn nhiều thịt (như tướng quân)
Cơ hồ khiến cho không còn gia súc nào trong nhà
Gặp thời thanh bình không có chiến tranh
Đều nhất loạt nói năng hùng dũng, chẳng kể gì tới Liêm Pha lẫn Lí Mục

 
Dịch thơ:
Bia Liêm Pha


Liêm Pha bỏ đi, Võ An làm tướng
Bốn chục vạn người bị chôn sống
Hoi sữa huyênh hoang nói việc binh
Một bức trường thành đành bỏ uổng
Trọng trách cõi bờ giao lão thành
Hiểu rõ thế nước, biết địch tình
Sở dĩ gặp địch giành thắng lợi
Nhờ nghĩ tới nước, quên thân mình
Một nước hai hổ, sao xâm phạm
Trên hai chục năm, ai dám hơn
Ông còn, nước Triệu được coi trọng
Ông mất, nước Triệu bị coi thường
Gièm pha miệng lưỡi nghe đáng giận
Đặt chuyện một bữa ba lần són
Người bạc đầu đi không trở về
Hàm Đan cùng lo cho số phận
Triệu mất, Tần nối ba nghìn niên
Tên tuổi tướng quân nay còn truyền
Ta chùi bia cổ, than thở mãi
Tưởng thấy hùng khí lúc sinh tiền
Đời nay lắm kẻ ăn nhiều thịt
Trong nhà hết sạch cả súc vật
Gặp buổi thanh bình không chiến tranh
Miệng nói hùng hồn, bất kể Liêm Pha lẫn Lí Mục


(Đặng Thế Kiệt dịch) 












Tuesday, 14 July 2015

090 Tô Tần đình 蘇秦亭 (II)





























 

Tô Tần (1) đình [bài 2]

Quý Tử hắc cừu tệ
Đồ bộ đảm nang quy
Kì thê bất hạ ki
Kì tẩu bất vi xuy
Phụ mẫu bất phục cố
Tương khán như lộ kì
Trượng phu nhất thất chí
Cốt nhục giai tương li
Nhất triêu đại vận hữu thì chí
Lục ấn triền yêu minh đắc ý
Hoàng kim bách dật bích bách song
Tòng xa thiên thặng lai hương lí
Phụ mẫu giao nghênh tẩu tất hành
Thê kiến kì phu trắc mục thị
Bình sinh chí nguyện tất ư tư
Tiền cứ hậu cung (2) ngôn chính bỉ
Hợp tung (3) bất tại khước cường Tần
Đãn hướng sở thân kiêu phú quý
Thích cổ nguyên vi quyền lợi mưu
Ta hồ thử nhân tiểu tai khí
Thư trung bão văn Tô Tần danh
Đạo trung khước quá Tô Tần đình
Xa mã kim ngọc dĩ vô tích
Đình tiền chi thảo không thanh thanh
Thế nhân đa độc Tô Tần truyện
Do vi vị thế phú quý thương kì sinh


Chú thích


(1) Tô Tần : Xem "Tô Tần đình (bài 1)".
(2) Tiền cứ hậu cung : Khi thành công, thấy chị lết gối lạy, Tô Tần hỏi: "Này chị! Sao trước ngạo mạn thế mà nay cung kính thế?" Người chị đáp: "Vì Quý Tử chức trọng mà nhiều tiền."
(3) Hợp tung : Xem "Tô Tần đình (bài 1)".


Dịch nghĩa:
Đình Tô Tần [bài 2]


Quý Tử, áo cừu đen rách
Đành đi bộ mang gói về
Vợ không rời khung cửi
Chị không nấu cơm cho ăn
Cha mẹ không đoái nhìn
Như gặp người lạ ở ngã ba đường
Kẻ trượng phu khi thất chí
Người ruột thịt cũng đều lìa bỏ
Một sớm vận lớn thành công đến
Ấn tướng quốc sáu nước đeo trên lưng, được đắc ý
Hoàng kim trăm dật, ngọc bích trăm đôi
Nghìn cỗ xe theo trở về làng
Cha mẹ ra xa nghênh đón, chị dâu lết gối ra chào
Vợ thấy chồng lấm lét nhìn
Chí nguyện một đời chính là lúc đó
"Trước rẻ rúng, sau cung kính", lời nói thật đáng khinh
Kế hợp tung chẳng phải để chống nước Tần mạnh
Mà chỉ nhắm cho vênh vang phú quý với người thân
"Dùi đâm vào vế" cốt để mưu quyền lợi
Than ôi, khí độ người đó thật là nhỏ mọn
Trong sách nghe danh Tô Tần
Nay trên đường, lại qua đình Tô Tần
Ngựa xe vàng ngọc không còn dấu vết
Trước đình chỉ thấy cỏ mọc xanh xanh
Người đời lắm kẻ đọc truyện Tô Tần
Thế mà còn để địa vị, giàu sang làm hại đời mình


Dịch thơ:
Đình Tô Tần [bài 2]


Quý Tử, áo cừu rách
Quảy gói về quê hương
Vợ không rời khung cửi
Chị chẳng nấu cơm ăn
Mẹ cha không nhìn tới
Tưởng khách ngã ba đường
Trượng phu khi thất chí
Ruột thịt cũng coi thường
Một mai vận lớn thành công đến
Ấn tướng đeo lưng, dáng vẻ vang
Trăm đôi ngọc bích, vàng trăm nén
Nghìn cỗ xe theo tới cổng làng
Mẹ cha nghênh đón, chị bò lết
Vợ thấy bóng chồng nhìn lấm lét
Chí nguyện một đời ở đấy hết
Trước khinh sau kính, lời nhỏ nhen
Hợp tung nào phải chống cường Tần
Chẳng qua vênh váo với người thân
Dùi đâm vào vế mưu quyền lợi
Khí độ sao mà hạng tiểu nhân!
Trong sách đã nghe danh Tô Tần
Trên đường nay qua đình Tô Tần
Ngựa xe, vàng ngọc còn đâu nữa
Chỉ thấy cỏ xanh mọc trước đình
Đọc truyện Tô Tần, đời lắm kẻ
Vẫn để quyền vị, giàu sang hại tới mình


(Đặng Thế Kiệt dịch)












Monday, 13 July 2015

089 Tô Tần đình 蘇秦亭 (I)


西




 



 

Tô Tần (1) đình

Tệ tận điêu cừu bất phục tê
Triệu đài để chưởng thổ hồng nghê
Tung hoành (2) tự khả ngu dung chúa
Phú quý hoàn năng cứ quả thê
Lục quốc ấn tiêu sa mạc mạc
Nhất đình thu mộ thảo thê thê
Nhân sinh quyền lợi thành vô vị
Kim cổ thùy năng phá thử mê


Chú thích


(1) Tô Tần : Thời Chiến Quốc , Tô Tần mười lần dâng thư thuyết Tần Vương (ở phía Tây) mà không có kết quả. Áo cừu đen đã rách, trăm cân vàng đã tiêu hết, thiếu tiền chi dụng, phải rời nước Tần mà về quê nhà, đùi quấn cạp, chân đi dép cỏ, đội sách đeo đẫy, hình dung tiều tụy, mặt mày xanh xạm, có vẻ xấu hổ. Về tới nhà, vợ thản nhiên không rời khung cửi, chị không nấu cơm cho ăn, cha mẹ không hỏi han tới. Tô Tần bùi ngùi than rằng: "Vợ không coi ta là chồng, chị không coi ta là em, cha mẹ không coi ta là con, đều là lỗi của Tần này cả." Đêm đó, lấy trong tráp cũ ra được mấy chục bộ sách, tìm được bộ binh pháp Âm Phù của Khương Thái Công , gục đầu trên án mà đọc (...). Đọc sách mệt mà buồn ngủ thì tự cầm dùi đâm vào vế, máu chảy tới bàn chân, bảo: "Có lẽ nào đi du thuyết bọn vua chúa mà không cho họ mang vàng ngọc, gấm vóc tặng mình, đem chức khanh tướng tôn quý phong mình không?" Được một năm, công tinh luyện đã thành (...), Tô Tần yết kiến Triệu Vương, ở dưới một ngôi nhà lộng lẫy, vỗ tay mà đàm luận. (...) Khi Tô Tần đi du thuyết vua Sở, đường qua Lạc Dương, cha mẹ hay tin, cọ nhà quét sân, bày nhạc đặt tiệc, ra ngoài ba chục dặm để đón rước, vợ chỉ dám liếc trộm, nghe trộm, còn chị thì bò như rắn, tự quỳ xuống tạ tội. (...) Tô Tần than: "Ôi! Nghèo khốn thì bố mẹ không nhận làm con, giàu sang thì thân thích sợ sệt. Người sinh ở đời, thế lực, chức vị và tiền của có thể coi thường được đâu!"
(2) Tung Hoành : Tung chính nghĩa là dọc, trái với Hoành là ngang. Tô Tần trước đem thuyết liên hoành thuyết Tần Huệ Vương , vua Tần không nghe. Sau dùng kế liên hợp các nước dọc từ Bắc xuống Nam để chống với Tần ở phía Tây; vì vậy mà gọi là kế hợp tung. (Cổ Văn Trung quốc, Nguyễn Hiến Lê, Xuân Thu xuất bản, Houston, USA, trang 85-87)


Dịch nghĩa:
Đình Tô Tần


Rách hết áo cừu đen, không trở lại phía Tây (nhà Tần)
Nơi triều đường nước Triệu, đập tay thở ra cầu vồng (ra tài hùng biện)
Thuyết hợp Tung, liên Hoành chỉ phỉnh được vua chúa tầm thường
Giàu sang có thể ngạo nghễ với đàn bà góa
Ấn sáu nước tiêu tan, cát bụi mịt mùng
Một ngôi đình trong cảnh thu muộn, cỏ um tùm
Trong đời người, quyền lợi thật là vô vị
Xưa nay ai phá được điều mê muội đó


Dịch thơ:
Đình Tô Tần


Rách áo cừu đen, bỏ nước Tần
Cầu vồng thở khói, Triệu vang rân
Hoành tung, phỉnh được bầy vua chúa
Phú quý, lòe chăng đám nữ nhân
Ấn sáu nước xưa, mù cát lộng
Đình lẻ thu chiều, rậm cỏ lan
Đời người quyền lợi hoàn vô vị
Nghìn thuở mê này ai phá tan


(Đặng Thế Kiệt dịch)