Search This Blog

Monday, 27 March 2017

010 Trấn Nam Quan 鎭南關










 


Phiên âm: Trấn Nam Quan (1)

Lý Trần cựu sự yểu nan tầm
Tam bách niên (2) lai trực đáo câm (kim)
Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm
Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ
Thiên cận tài tri giáng trạch thâm
Đế khuyết (3) hồi đầu bích vân biểu
Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.

Chú thích:

(1) Trấn Nam quan: Tên một cửa ải ở biên giới Việt-Hoa, từ tỉnh Lạng Sơn đến tỉnh Quảng Tây. Nguyễn Du đi qua cửa Nam Quan ngày 6 tháng 2 năm Quý Dậu (1813)
(2) Tam bách niên: Kể từ đầu nhà Lê (thế kỷ XV) đến nhà Nguyễn (thế kỷ XVIII) khoảng 300 năm.
(3) Thiên cận: Ý nói gần cửa Nam Quan là gần với Trung Quốc.
(4) Đế khuyết: Cửa nhà vua. Đây chỉ cung vua Nguyễn ở Phú Xuân.
(5) Quân thiều: Nhạc vua.  

Dịch nghĩa: Trấn Nam Quan

Việc cũ đời Lý, Trần mờ mịt khó tìm
Cho đến nay đã ba trăm năm rồi
Mặt lũy lẻ loi phân chia rõ ràng hai nước
Một cửa ải hùng vĩ trấn đóng giữa lòng muôn núi
Nơi hẻo lánh thường nghe đồn đãi sai lạc
Gần trời mới biết ơn mưa móc thấm nhuần
Quay đầu nhìn về cửa đế khuyết (nhà vua) ngoài mây biếc
Bên tai còn vẳng khúc nhạc nhà vua


Dịch thơ: Trấn Nam Quan

Lý, Trần mờ mịt biết tìm đâu
Ba kỷ vụt qua cách dãi dầu
Trước mặt một mình chia Hán Việt
Giữa lòng muôn núi đứng nghìn thâu
Tiếng đồn hẻo lánh tin sai lạc
Mưa móc gần trời ơn thấm sâu
Đế khuyết nhìn về mây ánh biếc
Bên tai còn vẳng nhạc quân chầu.


(Đặng Thế Kiệt dịch)