Search This Blog

Saturday, 29 August 2015

104 & 105 Sở Bá Vương mộ 楚霸王墓


(I)









 

Bạt sơn (2) giang đỉnh (3) nại thiên hà
Túc hận du du kí thiển sa
Bá Thượng (4) dĩ thành thiên tử khí
Trướng trung không thính mĩ nhân (5) ca
Nhãn tiền phiến thạch anh hùng tại
Sự hậu quần nho khẩu thiệt đa
Dục mịch Trường Lăng (6) nhất phôi thổ
Xích Mi (7) loạn hậu biến bồng ma


Chú thích


(1) Sở Bá Vương : tức Hạng Tịch (232-202) tự Vũ người đất Hạ Tương (nay thuộc tỉnh Giang Tô ). Xuất thân từ gia đình quí tộc, đời đời làm tướng nước Sở. Theo chú là Hạng Lương khởi binh ở Ngô Trung , đánh phía bắc đến vùng sông Hoài, sông Hoàng Hà, đại phá quân Tần. Tự lập làm Tây Sở Bá Vương 西 cùng Lưu Bang tranh đoạt thiên hạ. Cuối cùng bị thua ở Cai Hạ , chạy đến Ô Giang và tự vẫn ở đây.
(2) bạt sơn : trong bài "Cai Hạ ca" của Hạng Vũ: Lục bạt sơn hề, khí cái thế, Thì bất lợi hề, truy bất thệ, Truy bất thệ hề, khả nại hà, Ngu hề! Ngu! nại nhược hà! , , (Sức nhổ núi chừ, hùng khí trùm đời, Thời chẳng gặp chừ, ngựa truy không chạy, Ngựa truy không chạy chừ, còn biết làm sao, Ngu ơi! Ngu ơi! Em rồi ra sao!)
(3) giang đỉnh : nhấc cái vạc. Ở trước miếu vua Hạ Vũ có cái vạc to, chỉ mình Hạng Vũ nhấc nổi.
(4) Bá Thượng : Ở phía đông huyện Tràng An, thuộc tỉnh Thiểm Tây 西. Lưu Bang đóng quân ở đó. Người ta thấy mây toàn hình long, hổ hiện đủ ngũ sắc. Phạm Tăng bảo cùng Hạng Vũ rằng đó là điềm báo Lưu Bang sẽ được thiên hạ (Thiên tử khí).
(5) mĩ nhân : chỉ Ngu mỹ nhân . Hạng Vũ hát đi hát lại bài "Cai Hạ ca". Ngũ Mỹ nhân hát theo. Nước mắt Hạng Vương giàn giụa. Người chung quanh đều khóc, không một ai nhìn lên.

(6) Trường Lăng : mộ của Hán Cao Tổ , nay thuộc huyện Trường Lăng , tỉnh Thiểm Tây 西. § Hai câu cuối ý nói: ngôi mộ của Hán Cao Tổ Lưu Bang (dù đã chiến thắng Hạng Vũ), nhưng nay gai góc mọc đầy che lấp hết, không bằng Hạng Vũ còn phiến đá ghi dấu anh hùng.
(7) Xích Mi : lông mày đỏ. Trong cuộc nổi dậy cuối đời Tây Hán 西, để phân biệt với quân Vương Mãng , loạn quân đều tô đỏ lông mày.


Dịch nghĩa:
Mộ Sở Bá Vương [bài I]


Có sức dời núi nhấc vạc nhưng làm gì được mệnh trời
Mối hận cũ dằng dặc gửi dưới cát mỏng
Đất Bá Thượng đã hiện ra khí thiên tử
Trong màn luống nghe tiếng hát của người đẹp
Trước mắt, phiến đá còn để dấu anh hùng
Sau việc, đám nhà nho miệng lưỡi lắm điều
Muốn tìm một mảnh đất ở Trường Lăng
Nhưng sau loạn Xích Mi, gai góc mọc đầy


Dịch thơ:
Mộ Sở Bá Vương [bài I]


Dời non, nhấc vạc, mệnh trời cam
Cát mỏng vùi chôn mối hận thâm
Thiên hạ đã dành về Bá Thượng
Mĩ nhân đành uổng hát trong màn
Anh hùng phiến đá còn ghi dấu
Miệng lưỡi nhà nho lắm chuyện bàn
Mảnh đất Trường Lăng tìm chẳng thấy
Xích Mi hết loạn, cỏ bồng lan



(II)










Lộ bàng phiến thạch độc tranh vanh
Bất thị Ô Giang (1) thị Lỗ Thành (2)
Cập thức bại vong phi chiến tội (3)
Không lao trí lực dữ thiên tranh
Cổ kim vô nả anh hùng lệ
Phong vũ do văn sất trá thanh (4)
Tịch tịch nhị thì vô tảo tế
Xuân lai Ngu thảo (5) tự tùng sanh

Chú thích

(1) Ô Giang : sông phát nguyên từ Quý Châu chảy qua phía đông bắc Hòa huyện. Hạng Vương tự đâm cổ ở đây.
(2) Lỗ Thành : Hạng Vương chết rồi, cả đất Sở đầu hàng Hán, duy có đất Lỗ là không chịu hạ khí giới. Hán toan đem quân làm cỏ dân Lỗ, nhưng nghĩ rằng họ trọng lễ nghĩa nên mới quyết sống chết với chúa. Hán bèn bêu đầu Hạng Vương. Bấy giờ nước Lỗ mới chịu hàng. Hạng Tịch được tống táng theo nghi lễ dành cho một Lỗ công, chôn ở Cốc Thành.
(3) phi chiến tội : nhắc lời Hạng Vũ cho rằng mình thua không phải vì không biết dụng binh mà vì không gặp thời.
(4) sất trá thanh : Hạng Vũ cầm quân thường la hét.
(5) Ngu thảo : tức Ngu Mỹ Nhân thảo . Khi Hạng Vũ tự tử, Ngu Cơ chết theo. Cỏ mọc trên mộ nàng, người ta gọi là cỏ Ngu Mỹ Nhân. 


Dịch nghĩa:
Mộ Sở Bá Vương [bài II]

Bên đường tấm đá đứng một mình cao ngất
Không phải ở Ô Giang (nơi Hạng Vũ tự đâm cổ) mà ở thành nước Lỗ (nơi mà dân chúng trung thành với Hạng Vương tới cùng, đã tống táng Hạng Vương theo nghi lễ)
Mới hay đánh thua không phải vì dùng binh vụng
Đem trí lực đọ với mệnh trời chỉ uổng công
Xưa nay bao anh hùng đã rớt nước mắt
Trong mưa gió còn nghe tiếng thét gào
Vắng lặng hai mùa không người quét dọn cúng tế
Mùa xuân đến, cỏ Ngu mỹ nhân lại mọc rậm rạp xanh tươi

Dịch thơ:
Mộ Sở Bá Vương [bài II]

Bên đường bia đá đứng chênh vênh
Chết ở Ô Giang, táng Lỗ Thành
Thất thế biết tài đâu tính vụng
Uổng công đọ sức với trời xanh
Anh hùng kim cổ đều rơi lệ
Mưa gió gào kêu đến thất thanh
Vắng lặng hai mùa hương khói lạnh
Cỏ Ngu xuân đến lại tràn lan 


(Đặng Thế Kiệt dịch) 



Tham khảo

Sử ký của Tư Mã Thiên, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch, Lá Bối xuất bản, Sài Gòn, Việt nam, 1972, trang 199-203









Wednesday, 19 August 2015

074 Hà Nam đạo trung khốc thử 河南道中酷暑










 

Hà Nam thu bát nguyệt
Tàn thử vị tiêu dung
Lộ xuất lương phong ngoại
Nhân hành liệt nhật trung
Đồ trường tê quyện mã
Mục đoạn diệt quy hồng (2)
Hà xứ thôi xa hán
Tương khán lục lục đồng


Chú thích


(1) Hà Nam : Tỉnh ở phía nam sông Hoàng Hà .
(2) Diệt quy hồng : Truyện Kiều có câu: Cánh hồng bay bổng tuyệt vời, Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.


Dịch nghĩa:
Nắng dữ trên đường Hà Nam


Tiết thu, tháng tám ở Hà Nam
Khí nóng tàn vẫn chưa tan hết
Chỗ đường ra không có gió mát
Người đi giữa nắng gay gắt
Đường dài, ngựa mệt hý vang
Mỏi mắt trông bóng chim hồng bay mất
Quê ở đâu hả anh đẩy xe?
Nhìn nhau thấy vất vả như nhau


Dịch thơ:
Nắng dữ trên đường Hà Nam


Thu Hà Nam tháng tám
Chưa hết khí trời nồng
Đường ra gió mất biệt
Người đi nắng chói chang
Đường dài hí ngựa mệt
Mắt mỏi ngóng chim hồng
Anh đẩy xe với tớ
Quê người cùng long đong


(Đặng Thế Kiệt dịch)











Tuesday, 18 August 2015

085 Lạn Tương Như cố lí 藺相如故里










 

Đại dũng bất dĩ lực
Cận hữu Lạn Tương Như
Kiểu hãnh năng hoàn bích
Bồi bồi thiện tị xa
Phong bi lưu tính tự
Toàn Triệu miễn khâu khư
Tàm quý lực ách hổ (2)
Bình sanh vô khả thư


Chú thích


(1) Lạn Tương Như : Lạn Tương Như người nước Triệu , thời Chiến Quốc , là xá nhân của viên thái giám trưởng trong cung. Nhờ trí dũng của Lạn Tương Như mà vua Triệu Huệ Vương không mất viên ngọc Hòa Bích rất quý vào tay vua Tần Chiêu Vương . Khi được thăng làm Thượng khanh, hơn cả đại tướng Liêm Pha , Liêm Pha ganh tị, nhất định tìm cách làm nhục Tương Như. Lạn Tương Tư vẫn nhún nhường, khi ra đường, thấy bóng Liêm Pha, ngoặt xe lẩn tránh. Tương như nói: "Sở dĩ nước Tần hùng cường kia không dám đem quân đánh Triệu, là vì ở đây còn có hai con hổ (chỉ Lạn Tương Như và Liêm Pha). Tương Như tôi nhẫn nhục nhường nhịn, là vì để mối nguy của quốc gia lên trên cái hiềm thù cá nhân đấy." Lời nói này đến tai Liêm Pha, Liêm Pha cởi trần, lưng mang cành có cây gai đến nhà Tương Như tạ tội.
(2) Lực ách hổ : Luận ngữ : Bạo hổ bằng hà, tử nhi vô hối giả, ngô bất dữ dã , , (Thuật nhi ) Tay không mà bắt cọp, không thuyền mà lội qua sông, chết không tiếc thân, kẻ ấy ta không cho theo giúp ta.


Dịch nghĩa:
Làng cũ của Lạn Tương Như


Bậc đại dũng không cần đến sức mạnh
Chỉ có Lạn Tương Như
Cầu may lấy lại được ngọc bích
Đi vòng đường khéo tránh xe
Bia lớn ghi tên họ
Bảo toàn cho nước Triệu không thành gò đống
Thẹn thay cho kẻ có sức bắt được cọp
Mà trọn đời không có gì đáng ghi


Dịch thơ:
Làng cũ của Lạn Tương Như


Bậc đại dũng không dùng sức mạnh
Đời này chỉ có Lạn Tương Như
Đem về ngọc bích hay chưa
Vòng xe tránh né mà thừa khéo khôn
Bia lớn họ tên còn để lại
Nước Triệu kia khỏi phải nguy vong
Thẹn người bắt hổ tay không
Trọn đời mà chẳng nên công cán gì.


(Đặng Thế Kiệt dịch)















Monday, 10 August 2015

086 Hàm Đan tức sự 邯鄲即事










 

Hàm Đan (1) tức sự

Nhất đái thùy dương bán mộ yên
Hàm Đan thắng tích kiến di biên
Cao nguyên phong thảo hô ưng lộ
Hà xứ Vân Hòa (2) hiệp kĩ diên
Hồng Lĩnh mộng trung hoang xạ liệp (3)
Bạch đầu túc tích biến sơn xuyên
Hoàng Hà nam bắc giai thu thủy
Hương tín hà do đạt nhạn biên


Chú thích


(1) Hàm Ðan : Kinh đô nước Triệu thời Chiến Quốc , nay thuộc tỉnh Hà Bắc .
(2) Vân Hòa : Tên núi. Viên khâu ca từ : Cô Trúc chi quản Vân Hòa huyền (Chiêu Hạ ) Tiếng sáo Cô Trúc, tiếng đàn Vân Hòa.
(3) Hồng Lĩnh mộng trung hoang xạ liệp : Nguyễn Du tự xưng là Hồng Sơn liệp hộ (kẻ đi săn ở núi Hồng).


Dịch nghĩa:
Tức cảnh ở Hàm Ðan


Một dải dương liễu rủ trong khói gần chiều
Thắng cảnh Hàm Ðan thấy ghi trong sách cũ
Trên cao nguyên, bãi cỏ tươi xanh là đường gọi chim ưng (đi săn)
Còn đâu núi Vân Hòa tiệc vui ca kĩ?
Hồng Lĩnh trong giấc mộng thiếu vắng những cuộc đi săn
Ðầu bạc còn in dấu chân khắp núi sông
Nam bắc Hoàng Hà đều ngập nước mùa thu
Tin nhà làm sao đưa tới bên chim nhạn được


Dịch thơ:
Tức cảnh ở Hàm Ðan


Liễu rủ lưng chiều ráng khói phơi
Hàm Ðan ghi sách đẹp muôn đời
Ðồi cao cỏ mướt chim ưng gọi
Ðâu nhạc Vân Hòa yến tiệc chơi?
Hồng Lĩnh giấc mơ săn bắn thiếu
Bạc đầu chân dẫm khắp phương trời
Hoàng Hà nam bắc mênh mông nước
Cánh nhạn quê nhà sao tới nơi


(Đặng Thế Kiệt dịch)