Search This Blog

Saturday, 29 August 2015

104 & 105 Sở Bá Vương mộ 楚霸王墓


(I)









 

Bạt sơn (2) giang đỉnh (3) nại thiên hà
Túc hận du du kí thiển sa
Bá Thượng (4) dĩ thành thiên tử khí
Trướng trung không thính mĩ nhân (5) ca
Nhãn tiền phiến thạch anh hùng tại
Sự hậu quần nho khẩu thiệt đa
Dục mịch Trường Lăng (6) nhất phôi thổ
Xích Mi (7) loạn hậu biến bồng ma


Chú thích


(1) Sở Bá Vương : tức Hạng Tịch (232-202) tự Vũ người đất Hạ Tương (nay thuộc tỉnh Giang Tô ). Xuất thân từ gia đình quí tộc, đời đời làm tướng nước Sở. Theo chú là Hạng Lương khởi binh ở Ngô Trung , đánh phía bắc đến vùng sông Hoài, sông Hoàng Hà, đại phá quân Tần. Tự lập làm Tây Sở Bá Vương 西 cùng Lưu Bang tranh đoạt thiên hạ. Cuối cùng bị thua ở Cai Hạ , chạy đến Ô Giang và tự vẫn ở đây.
(2) bạt sơn : trong bài "Cai Hạ ca" của Hạng Vũ: Lục bạt sơn hề, khí cái thế, Thì bất lợi hề, truy bất thệ, Truy bất thệ hề, khả nại hà, Ngu hề! Ngu! nại nhược hà! , , (Sức nhổ núi chừ, hùng khí trùm đời, Thời chẳng gặp chừ, ngựa truy không chạy, Ngựa truy không chạy chừ, còn biết làm sao, Ngu ơi! Ngu ơi! Em rồi ra sao!)
(3) giang đỉnh : nhấc cái vạc. Ở trước miếu vua Hạ Vũ có cái vạc to, chỉ mình Hạng Vũ nhấc nổi.
(4) Bá Thượng : Ở phía đông huyện Tràng An, thuộc tỉnh Thiểm Tây 西. Lưu Bang đóng quân ở đó. Người ta thấy mây toàn hình long, hổ hiện đủ ngũ sắc. Phạm Tăng bảo cùng Hạng Vũ rằng đó là điềm báo Lưu Bang sẽ được thiên hạ (Thiên tử khí).
(5) mĩ nhân : chỉ Ngu mỹ nhân . Hạng Vũ hát đi hát lại bài "Cai Hạ ca". Ngũ Mỹ nhân hát theo. Nước mắt Hạng Vương giàn giụa. Người chung quanh đều khóc, không một ai nhìn lên.

(6) Trường Lăng : mộ của Hán Cao Tổ , nay thuộc huyện Trường Lăng , tỉnh Thiểm Tây 西. § Hai câu cuối ý nói: ngôi mộ của Hán Cao Tổ Lưu Bang (dù đã chiến thắng Hạng Vũ), nhưng nay gai góc mọc đầy che lấp hết, không bằng Hạng Vũ còn phiến đá ghi dấu anh hùng.
(7) Xích Mi : lông mày đỏ. Trong cuộc nổi dậy cuối đời Tây Hán 西, để phân biệt với quân Vương Mãng , loạn quân đều tô đỏ lông mày.


Dịch nghĩa:
Mộ Sở Bá Vương [bài I]


Có sức dời núi nhấc vạc nhưng làm gì được mệnh trời
Mối hận cũ dằng dặc gửi dưới cát mỏng
Đất Bá Thượng đã hiện ra khí thiên tử
Trong màn luống nghe tiếng hát của người đẹp
Trước mắt, phiến đá còn để dấu anh hùng
Sau việc, đám nhà nho miệng lưỡi lắm điều
Muốn tìm một mảnh đất ở Trường Lăng
Nhưng sau loạn Xích Mi, gai góc mọc đầy


Dịch thơ:
Mộ Sở Bá Vương [bài I]


Dời non, nhấc vạc, mệnh trời cam
Cát mỏng vùi chôn mối hận thâm
Thiên hạ đã dành về Bá Thượng
Mĩ nhân đành uổng hát trong màn
Anh hùng phiến đá còn ghi dấu
Miệng lưỡi nhà nho lắm chuyện bàn
Mảnh đất Trường Lăng tìm chẳng thấy
Xích Mi hết loạn, cỏ bồng lan



(II)










Lộ bàng phiến thạch độc tranh vanh
Bất thị Ô Giang (1) thị Lỗ Thành (2)
Cập thức bại vong phi chiến tội (3)
Không lao trí lực dữ thiên tranh
Cổ kim vô nả anh hùng lệ
Phong vũ do văn sất trá thanh (4)
Tịch tịch nhị thì vô tảo tế
Xuân lai Ngu thảo (5) tự tùng sanh

Chú thích

(1) Ô Giang : sông phát nguyên từ Quý Châu chảy qua phía đông bắc Hòa huyện. Hạng Vương tự đâm cổ ở đây.
(2) Lỗ Thành : Hạng Vương chết rồi, cả đất Sở đầu hàng Hán, duy có đất Lỗ là không chịu hạ khí giới. Hán toan đem quân làm cỏ dân Lỗ, nhưng nghĩ rằng họ trọng lễ nghĩa nên mới quyết sống chết với chúa. Hán bèn bêu đầu Hạng Vương. Bấy giờ nước Lỗ mới chịu hàng. Hạng Tịch được tống táng theo nghi lễ dành cho một Lỗ công, chôn ở Cốc Thành.
(3) phi chiến tội : nhắc lời Hạng Vũ cho rằng mình thua không phải vì không biết dụng binh mà vì không gặp thời.
(4) sất trá thanh : Hạng Vũ cầm quân thường la hét.
(5) Ngu thảo : tức Ngu Mỹ Nhân thảo . Khi Hạng Vũ tự tử, Ngu Cơ chết theo. Cỏ mọc trên mộ nàng, người ta gọi là cỏ Ngu Mỹ Nhân. 


Dịch nghĩa:
Mộ Sở Bá Vương [bài II]

Bên đường tấm đá đứng một mình cao ngất
Không phải ở Ô Giang (nơi Hạng Vũ tự đâm cổ) mà ở thành nước Lỗ (nơi mà dân chúng trung thành với Hạng Vương tới cùng, đã tống táng Hạng Vương theo nghi lễ)
Mới hay đánh thua không phải vì dùng binh vụng
Đem trí lực đọ với mệnh trời chỉ uổng công
Xưa nay bao anh hùng đã rớt nước mắt
Trong mưa gió còn nghe tiếng thét gào
Vắng lặng hai mùa không người quét dọn cúng tế
Mùa xuân đến, cỏ Ngu mỹ nhân lại mọc rậm rạp xanh tươi

Dịch thơ:
Mộ Sở Bá Vương [bài II]

Bên đường bia đá đứng chênh vênh
Chết ở Ô Giang, táng Lỗ Thành
Thất thế biết tài đâu tính vụng
Uổng công đọ sức với trời xanh
Anh hùng kim cổ đều rơi lệ
Mưa gió gào kêu đến thất thanh
Vắng lặng hai mùa hương khói lạnh
Cỏ Ngu xuân đến lại tràn lan 


(Đặng Thế Kiệt dịch) 



Tham khảo

Sử ký của Tư Mã Thiên, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch, Lá Bối xuất bản, Sài Gòn, Việt nam, 1972, trang 199-203









Wednesday, 19 August 2015

074 Hà Nam đạo trung khốc thử 河南道中酷暑










 

Hà Nam thu bát nguyệt
Tàn thử vị tiêu dung
Lộ xuất lương phong ngoại
Nhân hành liệt nhật trung
Đồ trường tê quyện mã
Mục đoạn diệt quy hồng (2)
Hà xứ thôi xa hán
Tương khán lục lục đồng


Chú thích


(1) Hà Nam : Tỉnh ở phía nam sông Hoàng Hà .
(2) Diệt quy hồng : Truyện Kiều có câu: Cánh hồng bay bổng tuyệt vời, Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.


Dịch nghĩa:
Nắng dữ trên đường Hà Nam


Tiết thu, tháng tám ở Hà Nam
Khí nóng tàn vẫn chưa tan hết
Chỗ đường ra không có gió mát
Người đi giữa nắng gay gắt
Đường dài, ngựa mệt hý vang
Mỏi mắt trông bóng chim hồng bay mất
Quê ở đâu hả anh đẩy xe?
Nhìn nhau thấy vất vả như nhau


Dịch thơ:
Nắng dữ trên đường Hà Nam


Thu Hà Nam tháng tám
Chưa hết khí trời nồng
Đường ra gió mất biệt
Người đi nắng chói chang
Đường dài hí ngựa mệt
Mắt mỏi ngóng chim hồng
Anh đẩy xe với tớ
Quê người cùng long đong


(Đặng Thế Kiệt dịch)











Tuesday, 18 August 2015

085 Lạn Tương Như cố lí 藺相如故里










 

Đại dũng bất dĩ lực
Cận hữu Lạn Tương Như
Kiểu hãnh năng hoàn bích
Bồi bồi thiện tị xa
Phong bi lưu tính tự
Toàn Triệu miễn khâu khư
Tàm quý lực ách hổ (2)
Bình sanh vô khả thư


Chú thích


(1) Lạn Tương Như : Lạn Tương Như người nước Triệu , thời Chiến Quốc , là xá nhân của viên thái giám trưởng trong cung. Nhờ trí dũng của Lạn Tương Như mà vua Triệu Huệ Vương không mất viên ngọc Hòa Bích rất quý vào tay vua Tần Chiêu Vương . Khi được thăng làm Thượng khanh, hơn cả đại tướng Liêm Pha , Liêm Pha ganh tị, nhất định tìm cách làm nhục Tương Như. Lạn Tương Tư vẫn nhún nhường, khi ra đường, thấy bóng Liêm Pha, ngoặt xe lẩn tránh. Tương như nói: "Sở dĩ nước Tần hùng cường kia không dám đem quân đánh Triệu, là vì ở đây còn có hai con hổ (chỉ Lạn Tương Như và Liêm Pha). Tương Như tôi nhẫn nhục nhường nhịn, là vì để mối nguy của quốc gia lên trên cái hiềm thù cá nhân đấy." Lời nói này đến tai Liêm Pha, Liêm Pha cởi trần, lưng mang cành có cây gai đến nhà Tương Như tạ tội.
(2) Lực ách hổ : Luận ngữ : Bạo hổ bằng hà, tử nhi vô hối giả, ngô bất dữ dã , , (Thuật nhi ) Tay không mà bắt cọp, không thuyền mà lội qua sông, chết không tiếc thân, kẻ ấy ta không cho theo giúp ta.


Dịch nghĩa:
Làng cũ của Lạn Tương Như


Bậc đại dũng không cần đến sức mạnh
Chỉ có Lạn Tương Như
Cầu may lấy lại được ngọc bích
Đi vòng đường khéo tránh xe
Bia lớn ghi tên họ
Bảo toàn cho nước Triệu không thành gò đống
Thẹn thay cho kẻ có sức bắt được cọp
Mà trọn đời không có gì đáng ghi


Dịch thơ:
Làng cũ của Lạn Tương Như


Bậc đại dũng không dùng sức mạnh
Đời này chỉ có Lạn Tương Như
Đem về ngọc bích hay chưa
Vòng xe tránh né mà thừa khéo khôn
Bia lớn họ tên còn để lại
Nước Triệu kia khỏi phải nguy vong
Thẹn người bắt hổ tay không
Trọn đời mà chẳng nên công cán gì.


(Đặng Thế Kiệt dịch)















Monday, 10 August 2015

086 Hàm Đan tức sự 邯鄲即事










 

Hàm Đan (1) tức sự

Nhất đái thùy dương bán mộ yên
Hàm Đan thắng tích kiến di biên
Cao nguyên phong thảo hô ưng lộ
Hà xứ Vân Hòa (2) hiệp kĩ diên
Hồng Lĩnh mộng trung hoang xạ liệp (3)
Bạch đầu túc tích biến sơn xuyên
Hoàng Hà nam bắc giai thu thủy
Hương tín hà do đạt nhạn biên


Chú thích


(1) Hàm Ðan : Kinh đô nước Triệu thời Chiến Quốc , nay thuộc tỉnh Hà Bắc .
(2) Vân Hòa : Tên núi. Viên khâu ca từ : Cô Trúc chi quản Vân Hòa huyền (Chiêu Hạ ) Tiếng sáo Cô Trúc, tiếng đàn Vân Hòa.
(3) Hồng Lĩnh mộng trung hoang xạ liệp : Nguyễn Du tự xưng là Hồng Sơn liệp hộ (kẻ đi săn ở núi Hồng).


Dịch nghĩa:
Tức cảnh ở Hàm Ðan


Một dải dương liễu rủ trong khói gần chiều
Thắng cảnh Hàm Ðan thấy ghi trong sách cũ
Trên cao nguyên, bãi cỏ tươi xanh là đường gọi chim ưng (đi săn)
Còn đâu núi Vân Hòa tiệc vui ca kĩ?
Hồng Lĩnh trong giấc mộng thiếu vắng những cuộc đi săn
Ðầu bạc còn in dấu chân khắp núi sông
Nam bắc Hoàng Hà đều ngập nước mùa thu
Tin nhà làm sao đưa tới bên chim nhạn được


Dịch thơ:
Tức cảnh ở Hàm Ðan


Liễu rủ lưng chiều ráng khói phơi
Hàm Ðan ghi sách đẹp muôn đời
Ðồi cao cỏ mướt chim ưng gọi
Ðâu nhạc Vân Hòa yến tiệc chơi?
Hồng Lĩnh giấc mơ săn bắn thiếu
Bạc đầu chân dẫm khắp phương trời
Hoàng Hà nam bắc mênh mông nước
Cánh nhạn quê nhà sao tới nơi


(Đặng Thế Kiệt dịch)






Friday, 17 July 2015

088 Liêm Pha bi 廉頗碑




























 

Liêm Pha (1) bi

Liêm Pha vong khứ Võ An (2) tướng
Tứ thập vạn nhân đồng huyệt táng
Nhũ xú tiểu nhi dị ngôn binh (3)
Nhất quốc trường thành (4) đồ tự táng
Kí khổn trọng nhậm tu lão thành
Nội thẩm quốc thế ngoại địch tình
Sở dĩ lâm địch năng chế thắng
Đoan tại quyên cừu tri phụ kinh
Nhất quốc lưỡng hổ (5) bất khả phạm
Nhị thập dư niên thùy dữ tranh
Tướng quân tại thời, Triệu dĩ trọng
Tướng quân khứ thời linh Triệu khinh
Sở hận sàm nhân chức thê phỉ
Hà tu nhất thực tam di thỉ (6)
Bạch đầu khứ hậu bất trùng lai
Hàm Đan (7) chi sự khả tri hĩ
Triệu vong Tần kế tam thiên niên
Tướng quân danh tự chí kim truyền
Ma sa cổ kiệt tam thái tức
Bột bột tráng khí tưởng kiến kỳ sinh tiền
Kim nhân bất thiểu thực đa nhục (8)
Cơ linh gia dưỡng vô di súc
Thanh bình thời tiết vô chiến tranh
Nhất khẩu hùng đàm bất sổ Liêm Pha dữ Lí Mục (9)


Chú thích

 
(1) Liêm Pha : Liêm Pha là một lương tướng nước Triệu. Đời Triệu Văn Vương , năm thứ 16, Liêm Pha giúp Triệu đánh Tề đại bại, lấy được Dương Tân và được lãnh chức thượng khanh, nổi tiếng với chư hầu là người có dũng khí.
(2) Võ An : Tức Vũ An Quân , tức Bạch Khởi (?-257 trước T.L.), tướng Tần. Đã đánh hơn 70 thành. Đánh bại quân Triệu Quát, chôn sống hơn 40 vạn hàng binh Triệu.
(3) Nhũ xú tiểu nhi : Chỉ Triệu Quát. Triệu Quát từ nhỏ học binh pháp, bàn quân sự, cho rằng thiên hạ chẳng có ai địch nổi mình. Quát từng bàn quân sự với cha, Triệu Xa không bắt bẻ, vặn vẹo nổi, nhưng vẫn không cho là phải. Mẹ Quát hỏi lý do, Xa đáp: "Việc binh cực kỳ nguy hiểm, mà Quát lại khinh thường. Nước Triệu không cử Quát làm tướng thì thôi, chứ cử nó thì cái người làm vỡ quân Triệu tất là nó." Quả thực, sau đó, Triệu Quát lên thay Liêm Pha, bao nhiêu chương trình biện pháp cũ thay đổi hết, nhiều quan quân liêu thuộc bị thuyên chuyển. Tướng Tần là Bạch Khởi được tin, bèn dùng chiến thuật bất thường, cho quân mai phục rồi vờ thua chạy, chẹn đường tiếp tế và cắt quân Triệu làm đôi ; lòng quân Triệu li tán. Được hơn bốn mươi ngày thì quân Triệu cạn lương, bị đói. Triệu Quát tung số quân tinh nhuệ nhất ra mặt trận và đích thân điều khiển. Quân Tần bắt chết Triệu Quát. Quân Quát thua cả mấy mươi vạn người đầu hàng và đều bị quân Tần chôn sống hết.
(4) Nhất quốc trường thành : Chỉ Liêm Pha, trường thành của cả nước.
(5) Nhất quốc lưỡng hổ : Lạn Tương Như người nước Triệu, là xá nhân của viên thái giám trưởng trong cung. Nhờ trí dũng của Lạn Tương Như mà vua Triệu Huệ Văn Vương không mất viên ngọc Hòa-bích rất quí vào tay vua Tần Chiêu Vương. Khi được thăng làm Thượng khanh, hơn cả đại tướng Liêm Pha, Liêm Pha ganh tị, nhất định tìm cách làm nhục Tương Như. Lạn Tương Tư vẫn nhún nhường, khi ra đường, thấy bóng Liêm Pha, ngoặt xe lẩn tránh. Tương như nói: "Sở dĩ nước Tần hùng cường kia không dám đem quân đánh Triệu, là vì ở đây còn có hai con hổ (chỉ Lạn Tương Như và Liêm Pha). Tương Như tôi nhẫn nhục nhường nhịn, là vì để mối nguy của quốc gia lên trên cái hiềm thù cá nhân đấy". Lời nói này đến tai Liêm Pha, Liêm Pha cởi trần, lưng mang cành có cây gai đến nhà Tương Như tạ tội.
(6) Nhất thực tam di thỉ : Kẻ thù của Liêm Pha là Quách Khai đút lót vàng bạc cho sứ giả để sứ giả nói xấu Liêm Pha. Sứ giả gặp Liêm Pha; Liêm Pha ăn một bữa hết một đấu gạo và mươì cân thịt, mặc áo giáp lên ngựa, tỏ ra mình vẫn còn dùng được. Sứ giả về báo với Triệu Vương rằng: "Liêm tướng quân tuy già nhưng ăn còn khỏe. Có điều ngồi với tôi một lúc mà bỏ đi đại tiện đến ba lần."
(7) Hàm Đan : Kinh đô nước Triệu, nay thuộc tỉnh Trực Lệ.
(8) Thực đa nhục : Ăn nhiều thịt. Xem chú thích (6) ở trên.
(9) Lí Mục : Tướng giỏi ở biên giới phía bắc nước Triệu. Lí Mục đánh Hung Nô, quân Hung Nô mười năm không dám phạm biên giới.


(Xem Sử Kí của Tư Mã Thiên,
Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Lá Bối tái bản lần I, 1972, Saigon, Việt Nam, trang 478-499)

Dịch nghĩa:
Bia Liêm Pha


Liêm Pha bỏ đi, Võ An làm tướng
Bốn chục vạn người bị chôn sống cùng một huyệt
Trẻ con hoi sữa nói việc dùng binh một cách dễ dàng
Bức trường thành của một nước đành phế bỏ
Trọng trách ngoài bờ cõi nên giao lại cho bậc lão thành
Trong hiểu rõ thế nước, ngoài nắm vững tình hình quân địch
Sở dĩ (người ấy) gặp địch có thể giành được thắng lợi
Ấy là vì biết quên thù riêng, mang roi gai (lại tạ tội)
Một nước có hai hổ, không kẻ nào có thể xâm phạm được
Trên hai chục năm, ai tranh nổi (với Liêm Pha)
Thời còn tướng quân, nước Triệu được coi trọng
Thời tướng quân mất đi, nước Triệu bị coi thường
Đáng giận kẻ gièm pha kiếm chuyện thêu dệt
Sao lại bịa chuyện một bữa ba lần són phân
Sau khi người bạc đầu ra đi không trở lại nữa
Việc Hàm Đan ra thế nào có thể biết được rồi
Triệu mất, Tần nối tiếp đã ba nghìn năm
Tên tuổi của tướng quân vẫn còn truyền lại
Ta chùi bia cổ để đọc, than thở mãi
Tưởng như thấy hùng khí của tướng quân vẫn bừng bừng như lúc sống
Người thời nay không ít kẻ ăn nhiều thịt (như tướng quân)
Cơ hồ khiến cho không còn gia súc nào trong nhà
Gặp thời thanh bình không có chiến tranh
Đều nhất loạt nói năng hùng dũng, chẳng kể gì tới Liêm Pha lẫn Lí Mục

 
Dịch thơ:
Bia Liêm Pha


Liêm Pha bỏ đi, Võ An làm tướng
Bốn chục vạn người bị chôn sống
Hoi sữa huyênh hoang nói việc binh
Một bức trường thành đành bỏ uổng
Trọng trách cõi bờ giao lão thành
Hiểu rõ thế nước, biết địch tình
Sở dĩ gặp địch giành thắng lợi
Nhờ nghĩ tới nước, quên thân mình
Một nước hai hổ, sao xâm phạm
Trên hai chục năm, ai dám hơn
Ông còn, nước Triệu được coi trọng
Ông mất, nước Triệu bị coi thường
Gièm pha miệng lưỡi nghe đáng giận
Đặt chuyện một bữa ba lần són
Người bạc đầu đi không trở về
Hàm Đan cùng lo cho số phận
Triệu mất, Tần nối ba nghìn niên
Tên tuổi tướng quân nay còn truyền
Ta chùi bia cổ, than thở mãi
Tưởng thấy hùng khí lúc sinh tiền
Đời nay lắm kẻ ăn nhiều thịt
Trong nhà hết sạch cả súc vật
Gặp buổi thanh bình không chiến tranh
Miệng nói hùng hồn, bất kể Liêm Pha lẫn Lí Mục


(Đặng Thế Kiệt dịch) 












Tuesday, 14 July 2015

090 Tô Tần đình 蘇秦亭 (II)





























 

Tô Tần (1) đình [bài 2]

Quý Tử hắc cừu tệ
Đồ bộ đảm nang quy
Kì thê bất hạ ki
Kì tẩu bất vi xuy
Phụ mẫu bất phục cố
Tương khán như lộ kì
Trượng phu nhất thất chí
Cốt nhục giai tương li
Nhất triêu đại vận hữu thì chí
Lục ấn triền yêu minh đắc ý
Hoàng kim bách dật bích bách song
Tòng xa thiên thặng lai hương lí
Phụ mẫu giao nghênh tẩu tất hành
Thê kiến kì phu trắc mục thị
Bình sinh chí nguyện tất ư tư
Tiền cứ hậu cung (2) ngôn chính bỉ
Hợp tung (3) bất tại khước cường Tần
Đãn hướng sở thân kiêu phú quý
Thích cổ nguyên vi quyền lợi mưu
Ta hồ thử nhân tiểu tai khí
Thư trung bão văn Tô Tần danh
Đạo trung khước quá Tô Tần đình
Xa mã kim ngọc dĩ vô tích
Đình tiền chi thảo không thanh thanh
Thế nhân đa độc Tô Tần truyện
Do vi vị thế phú quý thương kì sinh


Chú thích


(1) Tô Tần : Xem "Tô Tần đình (bài 1)".
(2) Tiền cứ hậu cung : Khi thành công, thấy chị lết gối lạy, Tô Tần hỏi: "Này chị! Sao trước ngạo mạn thế mà nay cung kính thế?" Người chị đáp: "Vì Quý Tử chức trọng mà nhiều tiền."
(3) Hợp tung : Xem "Tô Tần đình (bài 1)".


Dịch nghĩa:
Đình Tô Tần [bài 2]


Quý Tử, áo cừu đen rách
Đành đi bộ mang gói về
Vợ không rời khung cửi
Chị không nấu cơm cho ăn
Cha mẹ không đoái nhìn
Như gặp người lạ ở ngã ba đường
Kẻ trượng phu khi thất chí
Người ruột thịt cũng đều lìa bỏ
Một sớm vận lớn thành công đến
Ấn tướng quốc sáu nước đeo trên lưng, được đắc ý
Hoàng kim trăm dật, ngọc bích trăm đôi
Nghìn cỗ xe theo trở về làng
Cha mẹ ra xa nghênh đón, chị dâu lết gối ra chào
Vợ thấy chồng lấm lét nhìn
Chí nguyện một đời chính là lúc đó
"Trước rẻ rúng, sau cung kính", lời nói thật đáng khinh
Kế hợp tung chẳng phải để chống nước Tần mạnh
Mà chỉ nhắm cho vênh vang phú quý với người thân
"Dùi đâm vào vế" cốt để mưu quyền lợi
Than ôi, khí độ người đó thật là nhỏ mọn
Trong sách nghe danh Tô Tần
Nay trên đường, lại qua đình Tô Tần
Ngựa xe vàng ngọc không còn dấu vết
Trước đình chỉ thấy cỏ mọc xanh xanh
Người đời lắm kẻ đọc truyện Tô Tần
Thế mà còn để địa vị, giàu sang làm hại đời mình


Dịch thơ:
Đình Tô Tần [bài 2]


Quý Tử, áo cừu rách
Quảy gói về quê hương
Vợ không rời khung cửi
Chị chẳng nấu cơm ăn
Mẹ cha không nhìn tới
Tưởng khách ngã ba đường
Trượng phu khi thất chí
Ruột thịt cũng coi thường
Một mai vận lớn thành công đến
Ấn tướng đeo lưng, dáng vẻ vang
Trăm đôi ngọc bích, vàng trăm nén
Nghìn cỗ xe theo tới cổng làng
Mẹ cha nghênh đón, chị bò lết
Vợ thấy bóng chồng nhìn lấm lét
Chí nguyện một đời ở đấy hết
Trước khinh sau kính, lời nhỏ nhen
Hợp tung nào phải chống cường Tần
Chẳng qua vênh váo với người thân
Dùi đâm vào vế mưu quyền lợi
Khí độ sao mà hạng tiểu nhân!
Trong sách đã nghe danh Tô Tần
Trên đường nay qua đình Tô Tần
Ngựa xe, vàng ngọc còn đâu nữa
Chỉ thấy cỏ xanh mọc trước đình
Đọc truyện Tô Tần, đời lắm kẻ
Vẫn để quyền vị, giàu sang hại tới mình


(Đặng Thế Kiệt dịch)