Search This Blog

Wednesday, 20 May 2015

121 Đào Hoa đàm Lí Thanh Liên cựu tích 桃花潭李青蓮舊跡


Đào Hoa 桃花 là tên đầm ở tỉnh An Huy 安徽. Xưa ở đây có nhân sĩ tên là Uông Lân 汪倫 rất hâm mộ Lí Bạch 李白 (701-762). Muốn vời Lí Bạch đến nhà chơi, Uông bèn viết thư trong đó có câu: Ở đây có thiên lí đào hoa và và vạn gia mĩ tửu. Lí nghe nói rất lấy làm thích, bèn băng ngàn đến liền. Nhưng khi đến thấy phong cảnh không có gì kì mĩ, nhà cửa không lấy gì làm đông đúc. Uông bèn cười và cho biết rằng Thiên Lí Đào Hoa là tên đầm và Vạn Gia Mĩ Tửu là tên quán rượu. Lí cười xòa rồi ở chơi với Uông một thời gian khá lâu. Khi ở Lí được tiếp đãi chu đáo, khi về được đưa tiễn long trọng. Tình Uông Luân đối với Lí Bạch thật là thâm trọng. Lí Bạch cảm kích tặng cho Luân một bài tứ tuyệt rằng:
贈汪倫
李白乘舟將欲行
忽聞岸上踏歌聲
桃花潭水深千尺
不及汪倫送我情

Tặng Uông Luân
Lí Bạch thừa chu tương dục hành
Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh
Đào hoa đàm thủy thâm thiên xích
Bất cập Uông Luân tống ngã tình

Dịch nghĩa:

Lí Bạch lên thuyền sắp sửa ra đi; Bỗng trên bờ có tiếng chân nhảy nhịp và hát; Nước đầm đào hoa sâu hàng ngàn thước; Không bằng tình Uông Luân tiễn ta

Quách Tấn dịch thơ:

Thuyền Lí Bạch vừa toan trở mái
Bỗng ven bờ gót trổi lời ca
Tình Uông Luân lúc tiễn ta
Nước sâu nghìn thước đào hoa khôn bì 


image: http://zhidao.baidu.com/question/43221060.html

Đầm Đào Hoa nhờ câu chuyện Lí Bạch mà được nổi danh và lưu danh.
Nguyễn Du trên đường về nước cuối năm Quý Dậu (1813) đi qua An Huy hẳn nhớ đến giai thoại này: 
Nước đầm vẫn dập dờn trong
Chim bay cá lội cũng đồng nên tiên
Riêng người hiền không tìm thấy lại
Niềm nhớ thương quằn quại lòng ta
Đường đời gió bụi phôi pha
Tánh trời giữ vẹn chẳng thà cứ say

桃花潭水千尺清
潭上松柏冬猶青
道是唐朝李供奉
縱飲此潭因得名
十年酒肆人間世
天子呼來猶爛醉
自言臣是酒中仙
薄視榮名同敝履
千年勝跡以人傳
不在悠悠一潭水
潭水至今清且漣
一魚一鳥皆成仙
惆悵斯人不復見
遠來使我心茫然
世路塵埃信溷濁
不如終日痛飲全吾天

 

Đào Hoa đàm thủy thiên xích thanh
Đàm thượng tùng bách đông do thanh
Đạo thị Đường triều Lí Cung Phụng
Túng ẩm thử đàm nhân đắc danh
Thập niên tửu tứ nhân gian thế
Thiên tử hô lai do lạn túy
Tự ngôn thần thị tửu trung tiên
Bạc thị vinh danh đồng tệ lí
Thiên niên thắng tích dĩ nhân truyền
Bất tại du du nhất đàm thủy
Đàm thủy chí kim thanh thả liên
Nhất ngư nhất điểu giai thành tiên
Trù trướng tư nhân bất phục kiến
Viễn lai sử ngã tâm mang nhiên
Thế lộ trần ai tín hỗn trọc
Bất như chung nhật thống ẩm toàn ngô thiên


Chú thích


(1) Lí Thanh Liên 李青蓮: tức Lí Bạch 李白 (701-762) đời Đường, tự xưng là Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士.
(2) Đào Hoa 桃花: tên đầm ở tỉnh An Huy 安徽.
(3) Lí Cung Phụng 李供奉: Lí Thái Bạch được vua Đường Huyền Tông trọng dụng một lúc và phong chức Cung Phụng Hàn Lâm 供奉翰林.
(4) Thiên tử hô lai 天子呼來: Lí Thái Bạch ở trong viện Hàn Lâm thay vua thảo chiếu sắc, được vua yêu quý. Nhưng suốt ngày say rượu. Nhiều khi vua vời thảo những chiếu sắc cần kíp mà gặp lúc Lí say li bì thì vua nói cung nữ lấy nước lạnh áp vào mặt cho tỉnh. Vua trọng tài nên không bao giờ quở trách. Trong bài Ẩm trung bát tiên ca 飲中八仙歌 của Đỗ Phủ có đoạn nói về Lí Thái Bạch rằng:
Lí Bạch nhất đấu thi bách thiên
Trường An thị thượng tửu gia miên
Thiên tử hô lai bất thướng thuyền
Tự xưng thần thị tửu trung tiên

李白一斗詩百篇
長安市上酒家眠
天子呼來不上船
自稱臣是酒中仙
Nghĩa là:
Lí Thái Bạch uống một đấu rượu làm trăm bài thơ; Nơi quán rượu ở chợ Trường An say nằm ngủ; Thiên tử gọi lên thuyền không chịu đến; Tự xưng: Hạ thần là tiên trong làng rượu.

Dịch nghĩa:
Dấu cũ của Lí Thanh Liên ở đầm Đào Hoa


Đầm Đào Hoa nước trong suốt nghìn thước
Tùng bá trên đầm mùa đông vẫn xanh
Nghe nói Lí Cung Phụng đời nhà Đường
Uống rượu say ở đầm này, nên đầm mới nổi tiếng
Cuộc đời sống mười năm trong quán rượu
Khi nhà vua cho gọi vẫn còn say mèm
Tự xưng "ta là tiên trong làng rượu"
Xem dường vinh hoa như dép rách
Cảnh đẹp nghìn năm nhờ người mà được truyền
Chớ không phải vì nước đầm mênh mông bát ngát
Nước đầm đến nay vẫn trong vắt và gợn sóng
Con cá con chim ở đây đều thành tiên
Buồn bã người ấy không được gặp trở lại
Khiến ta từ xa đến lòng không xiết bùi ngùi
Đường đời đầy gió bụi, thật quả dơ đục
Chẳng bằng suốt ngày uống tràn để giữ trọn thiên tánh của mình


Dịch thơ:
 
Đầm Đào Hoa, dấu cũ của Lí Thanh Liên

Đầm Đào Hoa nước trong nghìn thước
Bờ bách tùng xanh mướt đông thiên
Rằng xưa Đường Lí Thanh Liên
Bên đầm chuốc chén lừng tên tuổi đầm
Trong quán rượu mười năm sống gởi
Lệnh vua đòi thú hỡi còn say
Túy Tiên xưng vốn là đây
Vinh ba đỏng đảnh xem tày dép hư
Cảnh nhờ người nghìn thu để tiếng
Há phải chờ rộng biển dài sông
Nước đầm vẫn dập dờn trong
Chim bay cá lội cũng đồng nên tiên
Riêng người hiền không tìm thấy lại
Niềm nhớ thương quằn quại lòng ta
Đường đời gió bụi phôi pha
Tánh trời giữ vẹn chẳng thà cứ say


(Quách Tấn dịch)



Tham khảo

Tố Như thi, Quách Tấn, An Tiêm tái bản tại Paris, 1995
Lí Cung Phụng 李供奉: http://zhidao.baidu.com/question/43221060.html


Monday, 18 May 2015

122-123 Đào Hoa dịch đạo trung 桃花驛道中


[I]
潛山八百里
西接楚山雲
古石瘦如鬼
新松長比人
萬畦宜菽麥
十日隔風塵
白連河北山
山中如不聞


[II]
雞犬出桑麻
沿溪小逕斜
山田常積水
野飯半含沙
石隱高人屋
塵隨貴者車
孤煙在天末
今夜宿誰家
 
Đào Hoa (1) dịch đạo trung

[I]
Tiềm Sơn (2) bát bách lí
Tây tiếp Sở sơn vân
Cổ thạch sấu như quỷ
Tân tùng trường tỉ nhân
Vạn huề nghi thục mạch
Thập nhật cách phong trần
Bạch Liên Hà Bắc sơn
Sơn trung như bất văn


[II]
Kê khuyển xuất tang ma
Duyên khê tiểu kính tà
Sơn điền thường tích thủy
Dã phạn bán hàm sa
Thạch ẩn cao nhân ốc
Trần tùy quý giả xa
Cô yên tại thiên mạt
Kim dạ túc thùy gia


Chú thích


(1) Đào Hoa 桃花: Thuộc tỉnh An Huy 安徽, nơi có đầm Đào Hoa nổi tiếng (xem bài: Đào Hoa đàm Lý Thanh Liên cựu tích 桃花潭李青蓮舊跡).
(2) Tiềm Sơn 潛山: Núi thuộc huyện Tiềm Sơn, tỉnh An Huy 安徽.

Dịch nghĩa:
Trên đường qua trạm Đào Hoa


[I]
Núi Tiềm tám trăm dặm
Phía tây liền với mây núi nước Sở
Đá xưa gầy như quỷ
Thông mới mọc cao bằng người
Muôn đồng ruộng rất hợp với cây đậu và lúa mạch
Mười ngày cách xa gió bụi
Qua núi Bạch Liên ở Hà Bắc
Trong núi dường như không nghe gì cả


[II]
Gà chó chạy ra từ bụi dâu, bụi gai
Con đường nhỏ dốc theo khe suối
Ruộng núi thường úng nước
Cơm đồng phân nửa là sạn
Đá che khuất nhà bậc cao nhân
Bụi bay theo xe kẻ quyền quý
Sợi khói cô đơn ở cuối chân trời
Đêm nay ngủ nhà ai


Dịch thơ:
Trên đường qua trạm Đào Hoa


[I]
Tiềm Sơn tám trăm dặm
Liền núi Sở mây trôi
Đá cổ gầy như quỷ
Thông non cao cỡ người
Ruộng xanh lên đậu mạch
Gió bụi cách phương trời
Qua Bạch Liên Hà Bắc
Như không nghe tiếng người


[II]
Gà chó chạy bụi gai
Bên khe dốc thoải dài
Nước thường úng ruộng núi
Cơm hẩm sạn phần hai
Người ẩn nhà đá khuất
Xe sang
bụi đất bay
Cuối trời một sợi khói
Đêm xuống ngủ nhà ai?


(Đặng Thế Kiệt dịch) 



Sunday, 17 May 2015

124 Tiềm Sơn đạo trung 潛山道中


夙有愛山癖
別後思何如
來到潛山路
宛如鴻嶺居
雲霞猿嘯外
松柏鶴巢餘
定有山中客
平生不識余

 

Tiềm Sơn (1) đạo trung
 

Túc hữu ái sơn tích
Biệt hậu tư hà như
Lai đáo Tiềm Sơn lộ
Uyển như Hồng Lĩnh cư
Vân hà viên khiếu ngoại
Tùng bách hạc sào dư
Định hữu sơn trung khách
Bình sinh bất thức dư


Chú thích


(1) Tiềm Sơn 潛山: Núi thuộc huyện Tiềm Sơn, tỉnh An Huy 安徽.

Dịch nghĩa:
Trên đường qua Tiềm Sơn


Ta vốn có tính yêu núi
Xa rồi nhớ bao nhiêu
Nay trên đường đi Tiềm Sơn
Tưởng như ở trong dãy Hồng Lĩnh
Mây ráng bên ngoài nơi vượn hú
Cây tùng cây bách có thừa chỗ cho hạc làm tổ
Hẳn có người trong núi
Suốt đời không quen biết ta


Dịch thơ:
Trên đường qua Tiềm Sơn


Vốn tánh ta yêu núi
Xa rồi nhớ biết bao
Tiềm Sơn đi tới chốn
Hồng Lĩnh giống làm sao
Vượn hú trời mây ráng
Hạc làm tổ tùng cao
Hẳn người trong núi đó
Có biết ta đâu nào


(Đặng Thế Kiệt dịch)




Monday, 11 May 2015

128 Đồ trung ngẫu hứng 途中偶興


山下喬松松下墳
纍纍都是古時人
自由自在不知死
花落花開無限春
伏臘子孫空酹酒
世間富貴等浮雲
百年到底皆如是
回首芒芒一片塵


Sơn hạ kiều tùng tùng hạ phần
Luy luy đô thị cổ thì nhân
Tự do tự tại bất tri tử
Hoa lạc hoa khai vô hạn xuân
Phục lạp (1) tử tôn không lỗi tửu
Thế gian phú quý đẳng phù vân
Bách niên đáo để giai như thị
Hồi thủ mang mang nhất phiến trần


Chú thích


(1) Phục lạp 伏臘: Phục là tiết thuộc mùa hạ; lạp là tiết chạp mùa đông. Ở Trung Hoa, hàng năm, đến hai tiết này nguời ta thường làm lễ tế mồ mả tổ tiên, rót rượu xuống đất để xin phù hộ.

Dịch nghĩa:
Ngẫu hứng giữa đường


Dưới chân núi là thông cao, dưới tàn thông là mồ mả
Ngổn ngang gò đống, đều là người xưa cả
Tự do tự tại không biết là đã chết
Hoa rụng hoa nở, mùa xuân vô hạn
Đến tiết phục lạp, con cháu uổng công tưới rượu xuống đất
Giàu sang trên đời như mây nổi
Trăm năm rốt cuộc đều như thế
Quay đầu nhìn chỉ thấy một áng bụi mịt mùng


Dịch thơ:
Ngẫu hứng giữa đường


Chân núi thông cao, dưới dãy mồ
Ngổn ngang gò đống, thảy người xưa
Tự do tự tại, chết không biết
Hoa nở hoa tàn, xuân chẳng lo
Phục lạp cháu con uổng rượu tưới
Giàu sang thế cuộc thoảng mây đưa
Trăm năm rốt ráo đều như thế
Ngoảnh lại mênh mang áng bụi mờ


(Đặng Thế Kiệt dịch)