Search This Blog

Sunday, 26 February 2023

076 Âu Dương Văn Trung Công mộ 歐陽文忠公墓


Phiên âm: 
Âu Dương Văn Trung Công mộ (1)

Ngũ xích phong bi lập đạo bàng
Tống triều cổ mộ ký Âu Dương
Bình sanh trực đạo vô di hám
Thiên cổ trùng tuyền thượng hữu hương (2)
Thu thảo nhất khâu tàng thử lạc
Danh gia bát đại thiện văn chương (3)
Trường tùng chi thảo sanh hà xứ
Tiều mục ca ngâm quá tịch dương.

Dịch nghĩa : 
Mộ ông Âu Dương Văn Trung

Tấm bia cao năm thước dựng bên đường
Ghi rõ mộ cổ của Âu Dương Tu đời nhà Tống
Bình sinh theo đường ngay, lòng không để hận
Nghìn thuở nơi chín suối vẫn có mùi hương
Một gò cỏ thu chứa đầy chuột cáo
Đó là chỗ nghỉ của một trong tám nhà văn tiếng tăm lừng lẫy
Giống thông cao tốt, sống lâu, và cỏ chi mọc ở chốn nào?
Tiếng hát của kẻ đốn củi kẻ chăn trâu lướt qua bóng chiều hôm

Dịch thơ : 
Mộ ông Âu Dương Văn Trung

Năm thước bia xanh dựng mé đường
Chữ xưa đề mộ Tống Âu Dương
Trăm năm một mảy đời không vết
Chín suối nghìn thu cốt giữ hương
Nương bóng thảo hoa gò thử lạc
Nức danh Đường Tống trụ văn chương
Hỏi thăm tùng bá nơi nao mọc?
Sáo mục ca tiều gió tịch dương.

(Quách Tấn dịch) (4)

Chú thích:

(1) Âu Dương: Âu Dương Tu (1007-1072), tự Vĩnh Thúc, hiệu Túy Ông, là một đại gia văn chương đời Tống. Âu Dương Tu là một nhà nho cương trực, suốt đời lo tiến cử hiền tài đề bạt kẻ hậu tiến, danh vọng rất cao. Sau khi chết được vua phong tặng thụy Văn Trung.
(2) Trùng tuyền: Cửu tuyền, huỳnh tuyền.
(3) Danh gia bát đại: Tám nhà đại danh. Văn chương lỗi lạc đời Đường, đời Tống có 8 người là Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên (đời Đường), Âu Dương Tu, Tăng Củng, Vương An Thạch, Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt (đời Tống), gọi là Đường Tống bát đại gia. Âu Dương Tu sáng tác rất nhiều. Tô Đông Pha phê bình Âu Dương Tu : Luận về đạo lớn thì tựa Hàn Dũ, luận về việc nước thì tựa Lục Chỉ (một văn sĩ đời Đường, giỏi về tấu nghị), viết văn ký sự thì như Tư Mã Thiên, còn thơ phú thì tựa Lý Bạch.
(4) Quách Tấn: Tố Như thi, Quách Tấn trích dịch, An Tiêm tái bản, Paris, France, 1995 (trang 212-214).





Saturday, 25 February 2023

075 Cựu Hứa đô 舊許都

 
Ðất nước Hứa thời xưa, nay ở phía Ðông huyện Hứa Xương 許昌, tỉnh Hà Nam 河南. Năm Kiến An 建安 nguyên niên (196) Tào Tháo 曹操 dời đô nhà Hán từ Lạc Dương 洛陽 đến đó nên gọi là Hứa Ðô.

Kiến An năm 25 建安往事 - 公元196年
https://kknews.cc/history/jz8kgje.html

Phiên âm: 
Cựu Hứa đô (1)

Hứa châu thành Hán đế đô
Tào thị vu thử di Hán đồ
Thụ thiện đài cơ dĩ bất kiến
Phong vũ dạ dạ do hào hô
Tự cổ đắc quốc đương dĩ chính
Nại hà vũ quả nhi khi cô (2)
Ngụy thụ Hán thiện Tấn thụ Ngụy
Tiền hậu sở xuất như nhất đồ
Ngụy vong Tấn tục canh triều đại (3)
Tự thử hất kim kỉ thiên tải
Kỳ trung hưng phế tri kỉ nhân
Nga nga thành điệp hà tằng cải
Thành ngoại thanh sơn tự cựu thời
Gian hùng soán thiết nhân hà tại
Hán nhân tông miếu dĩ vô tung
Ngụy nhân viên lăng diệc đồi bại
Đãng đãng thành trung nhất phiến thổ
Đình ngọ thị nhân xu mại mãi
Duy hữu Kiến An nhị thập ngũ niên sự (4)
Nhân khẩu thành bi chung bất hoại
Viễn lai sử ngã đa trầm ngâm
Di xú lưu phương giai cổ câm (kim)
Đột ngột danh thành đương đại đạo
Cự gian đáo thử ưng hàn tâm

Dịch nghĩa: 
Thành Hứa Ðô cũ

Thành Hứa Châu nơi vua Hán đóng đô
Họ Tào đoạt cơ đồ nhà Hán ở đây
Nền đài nhận ngôi vua không thấy nữa
Chỉ có đêm đêm gió mưa kêu gào
Từ xưa được nước đều lấy chính nghĩa
Sao lại lừa vợ góa dối con côi người ta
Ngụy nhận ngôi của Hán nhường, Tấn lại nhận ngôi của Ngụy nhường
Trước sau chỉ đi theo một lối
Ngụy mất Tấn nối theo, triều đại thay đổi
Từ ấy đến nay đã mấy nghìn năm
Trong khoảng thời gian ấy biết bao kẻ dấy lên rồi lụn bại
Mà tòa thành cao ngất vẫn chưa từng thay đổi
Ngoài thành núi vẫn xanh như thời cũ
Lũ gian hùng soán đoạt ngôi vua có kẻ nào còn đâu
Tông miếu nhà Hán đã  không còn dấu vết
Mả vườn họ Ngụy cũng đổ nát
Một miéng đất rộng ở trong thành
Giữa trưa người đến họp chợ chen nhau mua bán
Duy việc năm thứ 25 đời Kiến An
Thành bia miệng để đời không bao giờ mất
Khiến ta từ xa đến suy nghĩ mãi
Để lại tiếng thối tiếng thơm xưa nay đều có cả
Tòa thành cao ngất nổi tiếng đứng giữa đường cái
Bọn đại gian hùng đến đây ắt phải ớn lạnh trong lòng

Dịch thơ: 
Thành Hứa Ðô cũ

Thành Hứa Châu xưa Hán đế đô,
Nơi đây Tào Tháo đoạt cơ đồ.
Nền đài phong đế không còn nữa,
Chỉ có đêm đêm khóc gió mưa.
Ðược nước tự xưa nhờ chính nghĩa,
Sao lừa vợ góa dối con côi?
Hán nhường cho Ngụy, Ngụy nhường Tấn,
Trước sau chỉ một lối mà thôi.
Ngụy mất Tấn thay, triều đại đổi,
Ðến nay đã biết mấy nghìn năm.
Bao kẻ dấy lên rồi lụn bại,
Cao ngất thành xưa gội tháng năm.
Ngoài thành núi vẫn xanh thời cũ,
Soán đoạt gian hùng nay ở đâu?
Nhà Hán miếu đền không thấy dấu,
Mả vườn họ Ngụy nát từ lâu.
Trong thành cùng họp nhau đất rộng,
Giữa trưa người mua bán bon chen.
Hăm lăm việc cũ Kiến An,
"Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ".
Từ xa đến làm ta trăn trở,
Tiếng thối thơm đều có xưa nay.
Giữa đường thành lớn đứng ngay,
Ðại gian hùng bước đến đây lạnh hồn.

(Đặng Thế Kiệt dịch)

Chú thích:

(1) Hứa Ðô: Ðất nước Hứa thời xưa, nay ở phía Ðông huyện Hứa Xương 許昌, tỉnh Hà Nam 河南. Năm Kiến An 建安 nguyên niên (196) Tào Tháo 曹操 dời đô nhà Hán từ Lạc Dương 洛陽 đến đó nên gọi là Hứa Ðô.
(2) Quả, cô: Chỉ vợ và con của Linh Ðế 靈帝.
(3) Ngụy, Tấn: Tào Phi 曹丕 (187-226) bắt Hiến Ðế, con của Linh Ðế, nhường ngôi cho mình, đổi quốc hiệu là Ngụy. Sau đó, họ Tư Mã Viêm 司馬炎 lại bắt vua Ngụy nhường ngôi, lập nên nhà Tấn 晉
(4) Kiến An nhị thập ngũ niên: Năm thứ 25 (220, Tây lịch) thời Kiến An 建安, Tào Phi 曹丕 ép Hiến Ðế 獻帝 nhường ngôi.



043 Triệu Vũ đế cố cảnh 趙武帝故境


Phiên âm: 
Triệu Vũ đế (1) cố cảnh

Bạo Sở cường Tần tương kế tru
Ung dung ấp tốn bá nam tưu
Tự ngu tẫn khả xưng hoàng đế
Lạc thiện hoàn năng khuất thụ nhu (2)
Bách xích cao đài khuynh Lĩnh Biểu (3)
Thiên niên cổ mộ một Phiên Ngu (4)
Khả liên thế đại tương canh điệt
Bất cập Man Di nhất lão phu (5)


Dịch nghĩa: 
Đất cũ của Triệu Vũ Đế

Sở, Tần hai nước cường bạo theo nhau diệt vong
Ông cứ ung dung nhũn nhặn làm bá chủ phương nam
Tùy thích có thể xưng hoàng đế
Vui điều thiện chịu khuất với chú nhà nho hèn mọn
Đài cao trăm thước ở Lĩnh Biểu đã nghiêng đổ
Ngôi mộ cổ nghìn năm ở Phiên Ngung đã mất
Thương cho đời này theo đời kia thay đổi nhau
Nhưng không bằng ông lão Man Di

Dịch thơ: 
Đất cũ của Triệu Vũ Đế

Sở bạo Tần cường nối diệt vong
Phương nam làm chủ cứ ung dung
Cho vui tự chiếm ngôi hoàng đế
Ưa thiện đành thua chú khách thường
Trăm thước đài cao nghiêng Lĩnh Biểu
Nghìn năm mộ cổ mất Phiên Ngung
Bao nhiêu triều đại thay nhau đổi
Với lão Man Di chẳng sánh cùng

(Đặng Thế Kiệt dịch)


Chú thích:

(1) Triệu Vũ đế: Tức Triệu Đà (258-137, trước Công Nguyên). Năm Quý Tị (207) Triệu Đà đánh được An Dương Vương, lập ra nước Nam Việt, tự xưng là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung, gần thành Quảng Châu bây giờ.
(2) Thụ nhu: Chỉ Lục Giả. Hán Văn Đế sai Lục Giả sang thuyết phục Triệu Đà nên giao hảo với nhà Hán.
(3) Lĩnh Biểu: Đất ở ngoài Ngũ Lĩnh, ở miền nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây và Nam Việt).
(4) Phiên Ngu: Tức Phiên Ngung, nơi Triệu Đà đóng đô.
(5) Lão phu: Triệu Đà đáp thư Hán Văn Đế tự xưng là Man Di đại trưởng lão phu (ông lão Man Di).



052 Tương Giang dạ bạc 湘江夜泊


Phiên âm: Tương Giang (1) dạ bạc

Nhất khứ lục thập lý
Du du giang thủy trường
Phù vân liên Ngũ Lĩnh (2)
Minh nguyệt hội Tam tương
Biệt phố phân tân sắc
Dao không thất cố hương
Hạc lai nhân bất kiến (3)
Vãn thụ uất thương thương (4)

Dịch nghĩa: 
Đêm đậu thuyền trên sông Tương

Đi một mạch sáu mươi dặm
Nước sông chảy dài dằng dặc
Mây nổi nối liền dãy Ngũ Lĩnh
Trăng sáng tụ lại vùng Tam Tương
Phố xa chia sắc đẹp mới
Trời vòi vọi làm mất cố hương
Hạc trở lại nhưng không thấy người cưỡi hạc
Cây buổi tối chứa lạnh lẽo

Dịch thơ: 
Đêm đậu thuyền trên sông Tương

Một đi sáu mươi dặm
Dòng cuộn nước mênh mang
Mây giăng liền Ngũ Lãnh
Trăng ngập tràn Tam Tương
Bến tiễn chia xuân sắc
Trời xa lấp cố hương
Hạc về người chẳng thấy
Cây biếc lạnh ngàn sương

(Quách Tấn dịch) (5)



Chú thích:

(1) Tương Giang: Sông Tương phát nguyên từ Quảng Tây chảy theo hướng Đông Bắc vào tỉnh Hồ Nam, chảy qua Trường Sa rồi vào hồ Động Đình.
(2) Ngũ Lĩnh: Dãy núi cao năm ngọn chạy giáp địa phận hai tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây.
(3) Hạc lai: Mượn tích Đinh Linh Huy cỡi hạc lên tiên ở lầu Hoàng Hạc. Vì Lầu Hoàng Hạc ở Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc, gần vùng Tương Giang.
(4) Thương thương: Lạnh lẽo. Có bản chép là thương xanh.
(5) Quách Tấn: Tố Như thi, Quách Tấn trích dịch, An Tiêm tái bản, Paris, France, 1995 (trang 226-228).




051 Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch 永州柳子厚故宅


Phiên âm: 
Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu (1) cố trạch

Hành Lĩnh phù vân Tiêu Thủy ba
Liễu Châu cố trạch thử phi da
Nhất thân xích trục lục thiên lí
Thiên cổ văn chương bát đại gia (2)
Huyết chỉ hãn nhan thành khổ hĩ (3)
Thanh khê gia mộc nại ngu hà (4)
Tráng niên ngã diệc vi tài giả
Bạch phát thu phong không tự ta

Nguyễn Du 阮攸
Dịch nghĩa: 
Nhà cũ của Liễu Tông Nguyên ở Vĩnh Châu

Trên núi Hành Lĩnh mây nổi, sông Tiêu sóng gợn
Nơi đây có phải nhà cũ của thứ sử Liễu Châu?
Một thân bị đày ải nơi xa sáu ngàn dặm
Văn chương nghìn thuở, là một trong tám nhà văn thơ lớn bậc nhất
(Thợ vụng) tay bầm, mặt đổ mồ hôi, coi thật là khốn khổ
(Người tài như) khe trong, cây tốt, lại chịu tiếng ngu
Thời trai trẻ, ta cũng có tài ví như gỗ tốt
Nay bạc đầu, tự mình than vãn trước gió thu

Dịch thơ: 
Nhà cũ của Liễu Tông Nguyên ở Vĩnh Châu

Mây bay Hành Lĩnh, sóng Tiêu Tương
Nhà Liễu Tông Nguyên cũ phải không?
Nghìn dặm lưu đày thân tủi nhục
Muôn đời bội phục áng văn chương
Ngón bầm, mặt nhớp đành cơ cực
Cây đẹp, khe trong chịu dở ương
Gỗ quý tài trai ta cũng thể
Bạc đầu than vãn trước thu phong

(Đặng Thế Kiệt dịch)


Chú thích:

(1) Vĩnh Châu: Liễu Tông Nguyên 柳宗元 (773-819), tự là Tử Hậu 子厚, người đất Hà Đông 河東 (nay thuộc tỉnh Sơn Tây 山西). Từng làm thứ sử Liễu Châu 柳州 (nay là Quảng Tây 廣西), đỗ tiến sĩ năm 21 tuổi, nổi tiếng tài hoa. Làm quan, chủ trương cải cách chế độ, chống tham ô nên bị đày đi xa như ở Vĩnh Châu 永州 chẳng hạn (nay thuộc Hồ Nam 湖南).
(2) Bát đại gia: Tám nhà văn chương lỗi lạc: Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Tăng Củng, Vương An Thạch, Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt.
(3) Thành khổ hĩ: Trong bài Tế Liễu Tử Hậu văn Hàn Dũ viết: "Ví như người thợ vụng, tay bầm máu, mặt đổ mồ hôi, còn ông thợ khéo thì đứng khoanh tay. Văn chương ông Liễu không được dùng, còn bọn nịnh thần được thảo chiếu, chế của nhà vua!"
(4) Thanh khê gia mộc: Trong "Bài tựa tám bài thơ Ngu khê"' Liễu Tông Nguyên viết: "Cây tốt, đá lạ do hóa công bố trí, đều là những kỳ diệu của sơn thủy, chỉ vì tôi mà lụy, mang cái tên Ngu" (Gia mộc, dị thạch bố trí, giai sơn thủy chi kỳ giả, dĩ dư cố, hàm dĩ ngu nhục yên 嘉木異石錯置,皆山水之奇者,以余故,咸以愚辱焉). [Xem Nguyễn Hiến Lê, Cổ văn Trung Quốc, Xuân Thu xuất bản, USA Houston, trang 287-288.]