Search This Blog

Tuesday, 14 July 2015

090 Tô Tần đình 蘇秦亭 (II)

 

Tô Tần (1) đình [bài 2]

Quý Tử (2) hắc cừu tệ
Đồ bộ đảm nang quy
Kì thê bất hạ ki
Kì tẩu bất vi xuy
Phụ mẫu bất phục cố
Tương khán như lộ kì
Trượng phu nhất thất chí
Cốt nhục giai tương li
Nhất triêu đại vận hữu thì chí
Lục ấn triền yêu minh đắc ý
Hoàng kim bách dật bích bách song
Tụng xa thiên thặng lai hương lí
Phụ mẫu giao nghênh tẩu tất hành
Thê kiến kì phu trắc mục thị
Bình sinh chí nguyện tất ư tư
Tiền cứ hậu cung (3) ngôn chính bỉ
Hợp tung (4) bất tại khước cường Tần
Đãn hướng sở thân kiêu phú quý
Thích cổ (5) nguyên vi quyền lợi mưu
Ta hồ thử nhân tiểu tai khí
Thư trung bão văn Tô Tần danh
Đạo trung khước quá Tô Tần đình
Xa mã kim ngọc dĩ vô tích
Đình tiền chi thảo không thanh thanh
Thế nhân đa độc Tô Tần truyện
Do vi vị thế phú quý thương kì sinh


Chú thích


(1) Tô Tần 蘇秦: Xem "Tô Tần đình (bài 1)".
(2) Quý Tử 季子: Tên chữ của Tô Tần.
(2) Tiền cứ hậu cung 前倨後恭: Khi thành công, thấy chị lết gối lạy, Tô Tần hỏi: "Này chị! Sao trước ngạo mạn thế mà nay cung kính thế?" Người chị đáp: "Vì Quý Tử chức trọng mà nhiều tiền."
(3) Hợp tung 合縱: Xem "Tô Tần đình (bài 1)".
(5) Thích cổ 刺股: Khi đi du thuyết lần đầu bị thất bại, về nhà bị gia đình coi rẻ. Tô Tần đem sách Âm phù kinh ra đọc, lúc mệt mỏi, buồn ngủ, tự lấy dùi đâm vào vế đùi để khỏi ngủ gục.


Dịch nghĩa:
Đình Tô Tần [bài 2]


Quý Tử, áo cừu đen rách
Đành đi bộ mang gói về
Vợ không rời khung cửi
Chị không nấu cơm cho ăn
Cha mẹ không đoái nhìn
Như gặp người lạ ở ngã ba đường
Kẻ trượng phu khi thất chí
Người ruột thịt cũng đều lìa bỏ
Một sớm vận lớn thành công đến
Ấn tướng quốc sáu nước đeo trên lưng, được đắc ý
Hoàng kim trăm dật, ngọc bích trăm đôi
Nghìn cỗ xe theo trở về làng
Cha mẹ ra xa nghênh đón, chị dâu lết gối ra chào
Vợ thấy chồng lấm lét nhìn
Chí nguyện một đời chính là lúc đó
"Trước rẻ rúng, sau cung kính", lời nói thật đáng khinh
Kế hợp tung chẳng phải để chống nước Tần mạnh
Mà chỉ nhắm cho vênh vang phú quý với người thân
"Dùi đâm vào vế" cốt để mưu quyền lợi
Than ôi, khí độ người đó thật là nhỏ mọn
Trong sách nghe danh Tô Tần
Nay trên đường, lại qua đình Tô Tần
Ngựa xe vàng ngọc không còn dấu vết
Trước đình chỉ thấy cỏ mọc xanh xanh
Người đời lắm kẻ đọc truyện Tô Tần
Thế mà còn để địa vị, giàu sang làm hại đời mình


Dịch thơ:
Đình Tô Tần [bài 2]


Quý Tử áo cừu rách
Quảy gói về quê hương
Vợ không rời khung cửi
Chị chẳng nấu cơm ăn
Mẹ cha không nhìn tới
Tưởng khách ngã ba đường
Trượng phu khi thất chí
Ruột thịt cũng coi thường
Một mai vận lớn thành công đến
Ấn tướng đeo lưng, dáng vẻ vang
Trăm đôi ngọc bích, vàng trăm nén
Nghìn cỗ xe theo tới cổng làng
Mẹ cha nghênh đón, chị bò lết
Vợ thấy bóng chồng nhìn lấm lét
Chí nguyện một đời ở đấy hết
Trước khinh sau kính, lời nhỏ nhen
Hợp tung nào phải chống cường Tần
Chẳng qua vênh váo với người thân
Dùi đâm vào vế mưu quyền lợi
Khí độ sao mà hạng tiểu nhân!
Trong sách đã nghe danh Tô Tần
Trên đường nay qua đình Tô Tần
Ngựa xe, vàng ngọc còn đâu nữa
Chỉ thấy cỏ xanh mọc trước đình
Đọc truyện Tô Tần, đời lắm kẻ
Vẫn để quyền vị, giàu sang hại tới mình


(Đặng Thế Kiệt dịch)












Monday, 13 July 2015

089 Tô Tần đình 蘇秦亭 (I)

 

Tô Tần (1) đình

Tệ tận điêu cừu bất phục tê
Triệu đài để chưởng thổ hồng nghê
Tung hoành (2) tự khả ngu dung chúa
Phú quý hoàn năng cứ quả thê
Lục quốc ấn tiêu sa mạc mạc
Nhất đình thu mộ thảo thê thê
Nhân sinh quyền lợi thành vô vị
Kim cổ thùy năng phá thử mê


Chú thích


(1) Tô Tần 蘇秦: Thời Chiến Quốc 戰國, Tô Tần mười lần dâng thư thuyết Tần Vương 秦王 (ở phía Tây) mà không có kết quả. Áo cừu đen đã rách, trăm cân vàng đã tiêu hết, thiếu tiền chi dụng, phải rời nước Tần mà về quê nhà, đùi quấn cạp, chân đi dép cỏ, đội sách đeo đẫy, hình dung tiều tụy, mặt mày xanh xạm, có vẻ xấu hổ. Về tới nhà, vợ thản nhiên không rời khung cửi, chị không nấu cơm cho ăn, cha mẹ không hỏi han tới. Tô Tần bùi ngùi than rằng: "Vợ không coi ta là chồng, chị không coi ta là em, cha mẹ không coi ta là con, đều là lỗi của Tần này cả." Đêm đó, lấy trong tráp cũ ra được mấy chục bộ sách, tìm được bộ binh pháp Âm Phù của Khương Thái Công 姜太公, gục đầu trên án mà đọc (...). Đọc sách mệt mà buồn ngủ thì tự cầm dùi đâm vào vế, máu chảy tới bàn chân, bảo: "Có lẽ nào đi du thuyết bọn vua chúa mà không cho họ mang vàng ngọc, gấm vóc tặng mình, đem chức khanh tướng tôn quý phong mình không?" Được một năm, công tinh luyện đã thành (...), Tô Tần yết kiến Triệu Vương, ở dưới một ngôi nhà lộng lẫy, vỗ tay mà đàm luận. (...) Khi Tô Tần đi du thuyết vua Sở, đường qua Lạc Dương, cha mẹ hay tin, cọ nhà quét sân, bày nhạc đặt tiệc, ra ngoài ba chục dặm để đón rước, vợ chỉ dám liếc trộm, nghe trộm, còn chị thì bò như rắn, tự quỳ xuống tạ tội. (...) Tô Tần than: "Ôi! Nghèo khốn thì bố mẹ không nhận làm con, giàu sang thì thân thích sợ sệt. Người sinh ở đời, thế lực, chức vị và tiền của có thể coi thường được đâu!"
(2) Tung Hoành 縱橫: Tung 縱 chính nghĩa là dọc, trái với Hoành 橫 là ngang. Tô Tần trước đem thuyết liên hoành thuyết Tần Huệ Vương 秦惠王, vua Tần không nghe. Sau dùng kế liên hợp các nước dọc từ Bắc xuống Nam để chống với Tần ở phía Tây; vì vậy mà gọi là kế hợp tung. (Cổ Văn Trung quốc, Nguyễn Hiến Lê, Xuân Thu xuất bản, Houston, USA, trang 85-87)

Dịch nghĩa:
Đình Tô Tần


Rách hết áo cừu đen, không trở lại phía Tây (nhà Tần)
Nơi triều đường nước Triệu, đập tay thở ra cầu vồng (ra tài hùng biện)
Thuyết hợp Tung, liên Hoành chỉ phỉnh được vua chúa tầm thường
Giàu sang có thể ngạo nghễ với đàn bà góa
Ấn sáu nước tiêu tan, cát bụi mịt mùng
Một ngôi đình trong cảnh thu muộn, cỏ um tùm
Trong đời người, quyền lợi thật là vô vị
Xưa nay ai phá được điều mê muội đó


Dịch thơ:
Đình Tô Tần


Rách áo cừu đen, bỏ nước Tần
Cầu vồng thở khói, Triệu vang rân
Hoành tung, phỉnh được bầy vua chúa
Phú quý, lòe chăng đám nữ nhân
Ấn sáu nước xưa, mù cát lộng
Đình lẻ thu chiều, rậm cỏ lan
Đời người quyền lợi hoàn vô vị
Nghìn thuở mê này ai phá tan


(Đặng Thế Kiệt dịch) 





Tuesday, 16 June 2015

073 Độ Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng 渡淮有感文丞相

 

Độ Hoài (1) hữu cảm Văn Thừa Tướng (2)

Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên
Thừa tướng cô trung vạn cổ truyền
Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ
Trùng lai Giang Tả cánh hà niên
Ai trung xúc xứ minh kim thạch
Oán huyết quy thời hóa đỗ quyên (3)
Nam Bắc chỉ kim vô dị tục
Tịch dương vô hạn vãng lai thuyền.


Chú thích


(1) Độ Hoài 渡淮: Sông Hoài thuộc phần đất hai tỉnh An Huy 安徽, Giang Tô 江蘇. Khi nước Tống 宋 bị người Kim 金 đánh bại, phải cắt đất để cầu hòa, lấy sông Hoài làm ranh giới. Từ sông Hoài trở lên Bắc thuộc về Kim, từ sông trở xuống Nam thuộc về nhà Tống. Từ ấy nhà Tống gọi là Nam Tống, còn gọi là miền Giang Tả vì ở tả ngạn sông Hoài.
(2) Văn Thừa Tướng 文丞相: Tức Văn Thiên Tường 文天祥 (1236-1282), hiệu Văn Sơn 文山, làm Thừa Tướng nhà Nam Tống 南宋. Khi quân Nguyên 元 xâm chiếm nước Tống, Văn Thiên Tường khởi binh chống cự. Quân Tống thua, nhà Tống mất. Văn Thiên Tường bị bắt giam ở Yên Kinh 燕京 4 năm, không chịu khuất phục nên bị giết. Văn Thiên Tường có tập thơ nhan đề là Chỉ Nam Lục 指南錄 và Chỉ Nam hậu lục 指南後錄, tả những cảnh ngộ đã trải qua khi chạy nạn. Lời văn bi thiết. Trong thơ Văn Thiên Tường có câu:
Tùng kim biệt khước Giang Nam lộ
Hóa tác đề quyên đới huyết quy
從今別卻江南路
化作啼鵑帶血歸
(Từ nay biệt hẳn đường Giang Nam
Sẽ hóa thành chim quốc đeo máu mà về)
(3) Đỗ quyên 杜鵑: Chim cuốc. Có tên nữa là Tử Quy 子規.

Dịch nghĩa:
Qua sông Hoài nhớ Văn Thừa Tướng


Phong cảnh núi sông vẫn còn y như cũ
Tấm lòng cô trung của thừa tướng muôn thuở lưu truyền
Vượt qua khỏi sông Hoài, không còn là đất cũ nữa
Biết đến năm nào mới trở lại miền Giang Tả?
Nỗi thương cảm đến chốn nào đều kêu lên tiếng vàng tiếng đá
Máu oán hận lúc trở về hóa thành chim quốc
Ngày nay phong tục miền bắc miền nam không khác nhau nữa
Dưới bóng chiều tà, thuyền qua lại tấp nập


Dịch thơ:
Qua sông Hoài nhớ Văn Thừa Tướng


Non sông ngày trước cảnh còn y,
Một phiến trung hồn muôn thuở ghi.
Qua khỏi Hoài Hà đành hết đất,
Trở về Giang Tả những chờ khi.
Lòng thơm chạm trổ lời kim thạch,
Máu hận trào sôi kiếp tử quy.
Phong tục Bắc Nam rày chẳng khác,
Ghe thuyền lai vãng nhộn tà huy.


(Quách Tấn dịch)






Tham khảo


Tố Như thi, Quách Tấn trích dịch, An Tiêm tái bản, Paris, France, 1995 (trang 209-211).








Monday, 15 June 2015

072 Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm Hầu 渡淮有感淮陰侯


尋常一飯報千金
五載君臣分誼深
推食解衣難背德
藏弓烹狗亦甘心
百蠻谿峒留苗裔
兩漢山河變古今
惆悵江頭思往事
 
Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm Hầu (1)

Tầm thường nhất phạn báo thiên câm (2)
Ngũ tải quân thần phận nghị thâm
Thôi thực giải y (3) nan bội đức
Tàng cung phanh cẩu (4) diệc cam tâm
Bách Man (5) khê động lưu miêu duệ
Lưỡng Hán sơn hà biến cổ câm
Trù trướng giang đầu tư vãng sự
Đoạn vân suy thảo mãn (6) Hoài Âm


Chú thích


(1) Hoài Âm Hầu 淮陰侯: Tức Hàn Tín 韓信 (230 trước CN - 196 trước CN), người đất Hoài Âm (thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay).
(2) Nhất phạn báo thiên kim 一飯報千金: Hàn Tín thuở trẻ nhà nghèo, được bà phiếu mẫu (làm nghề giặt quần áo) cho bữa cơm. Sau thành công, Hàn Tín trả ơn nghìn vàng.
(3) Thôi thực giải y 推食解衣: Hàn Tín giúp Lưu Bang lập nên nghiệp đế thành Hán Cao Tổ. Hán Cao Tổ phong Hàn Tín làm Sở Vương. Người nước Tề là Khoái Thông 蒯通 biết rằng cái thế hơn thua trong thiên hạ tùy thuộc ở nơi Hàn Tín (...), muốn thuyết phục Hàn Tín cùng với Hán, Sở tạo thành cái thế chân vạc. Hàn Tín nói: "Hán vương đãi tôi rất hậu, nhường xe cho tôi đi, nhường áo cho tôi mặc, nhường bữa cho tôi ăn (...); tôi há dám đuổi theo mối lợi mà quay lưng lại với điều nghĩa!"
(4) Tàng cung phanh cẩu 藏弓烹狗: Sau Hàn Tín bị nghi oan làm phản, bị Hán vương giáng làm Hoài Âm Hầu, rồi bị Lữ Hậu giết cả ba họ. Quả đúng như người ta nói : "Con thỏ tinh khôn mà chết, thì con chó săn giỏi bị luộc, đám chim bay cao mà hết, thì chiếc cung tốt xếp xó; nước địch mà phá xong, thì người mưu thần chết." (Xem Sử ký của Tư Mã Thiên, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch, Lá Bối xuất bản, 1972, Saigon, Việt Nam, trang 573-580).
(5) Bách Man ... miêu duệ 百蠻谿峒留苗裔: Tương truyền, để giúp Hàn Tín có con cháu nối dõi, hai người bạn Tiêu Hà 蕭何 và Khoái Triệt 蒯徹 (tức là Khoái Thông 蒯通 — viết không kiêng tên húy của Hán Vũ Đế 漢武帝 là Lưu Triệt 劉徹) đã che giấu nàng hầu đang có mang của Hàn Tín trong rừng núi phương nam, ở đất Bách Man.
(6) mãn 滿: có bản chép là cách 隔.

Dịch nghĩa:
Qua sông Hoài, nhớ Hàn Tín


Được cho một bữa cơm thường, đền ơn ngàn vàng
Năm năm trời, tình nghĩa vua tôi thật thắm thiết
Ơn đức nhường cơm sẻ áo thật khó quên
Dù chịu nạn 'cất cung giết chó' cũng cam lòng
Trong khe động đất Bách Man còn để lại dòng giống
Núi sông hai nhà Hán thay đổi theo thời gian
Qua bến sông, ngậm ngùi nhớ chuyện cũ
Mây rời rạc, cỏ úa tàn tràn đầy đất Hoài Âm


Dịch thơ:
Qua sông Hoài, nhớ Hàn Tín


Bát cơm Phiếu Mẫu trả nghìn vàng
Thắm thiết vua tôi nghĩa nặng mang
"Sẻ áo nhường cơm" thêm cảm đức
"Giấu cung giết chó" cũng cam lòng
Đất Man khe động còn con cháu
Nhà Hán cơ đồ đâu bóng vang
Bến nước ngậm ngùi ôn chuyện cũ
Rạc rời mây cỏ úa Hoài Âm.


(Đặng Thế Kiệt dịch)