Search This Blog

Tuesday, 9 June 2015

115 Nhạc Vũ Mục mộ 岳武穆墓


中原百戰出英雄
丈八神鎗六石弓
相府已成三字獄
軍門猶惜十年功
江湖處處空南國
松柏錚錚傲北風
悵望臨安舊陵廟
栖霞山在暮煙中


Nhạc Vũ Mục (1) mộ

Trung Nguyên bách chiến xuất anh hùng
Trượng bát thần thương lục thạch cung
Tướng phủ dĩ thành tam tự ngục (2)
Quân môn do tích thập niên công
Giang hồ xứ xứ không Nam quốc
Tùng bách tranh tranh ngạo bắc phong
Trướng vọng Lâm An (3) cựu lăng miếu
Thê Hà (4) sơn tại mộ yên trung

 
Chú thích


(1) Nhạc Vũ Mục 岳武穆: Tức Nhạc Phi 岳飛, tướng tài thời Nam Tống 南宋. Sau bị Tần Cối 秦檜 hại giết. Đến đời Hiếu Tông 孝宗, được phục chức và đặt tên thụy là Vũ Mục. (Xem: Yển thành Nhạc Vũ Mục ban sư xứ 郾城岳武穆班處).
(2) Tam tự ngục 三字獄: Án ba chữ. Tần Cối bắt giam Nhạc Phi. Khi Hàn Thế Trung 韓世忠 hỏi kết tội gì, Tần Cối trả lời: "Không cần tội" (mạc tu hữu 莫須有). Đời sau gọi đó là "án ba chữ".
(3) Lâm An 臨安: Kinh đô Nam Tống (nay là Hàng Châu 杭州).
(4) Thê Hà 栖霞: Tên núi ở Hàng Châu 杭州 (tỉnh Chiết Giang 浙江). Dưới chân núi có mộ Nhạc Phi.

Dịch nghĩa:
Mộ Nhạc Vũ Mục


Bậc anh hùng xuất hiện trong trăm trận ở Trung Nguyên
Thương thần dài trượng tám, cung nặng sáu thạch
Ở phủ tướng đã khép vào "tội ba chữ"
Nơi ba quân còn tiếc công mười năm chiến đấu
Sông hồ khắp nơi thấy trống vắng trời
nước Nam 
Cây tùng cây bách hiên ngang ngạo nghễ trước gió bắc
Buồn trông lăng miếu cũ ở Lâm An
Núi Thê Hà chìm trong khói chiều


Dịch thơ:
Mộ Nhạc Vũ Mục


Thương dài trượng tám, cung ngàn cân
Bách chiến Trung Nguyên tướng xuất thần
Ba chữ tội dành nơi phủ tướng
Mười năm công bỏ chốn ba quân
Sông hồ vắng bóng trời Nam Tống
Tùng bách đương đầu gió bắc căm
Buồn ngóng kinh thành lăng miếu cũ
Thê Hà núi ngập khói chiều hôm


(Đặng Thế Kiệt dịch)


Monday, 8 June 2015

097 Yển Thành Nhạc Vũ Mục ban xứ 郾城岳武穆班處


photo dtk 2005 Hàng Châu
當時曾駐岳家軍
此地經今有戰塵
大將空懷邦國恥
君王已絕父兄親
金牌十二有遺恨
鐵騎三千空暮蕓
血戰十年成底事
風波亭下謝金人

 

Yển Thành (1) Nhạc Vũ Mục (2) ban xứ

Đương thì tằng trú Nhạc gia quân
Thử địa kinh kim hữu chiến trần
Đại tướng không hoài bang quốc sỉ
Quân vương dĩ tuyệt phụ huynh thân (3)
Kim bài thập nhị (4) hữu di hận
Thiết kị tam thiên không mộ vân
Huyết chiến thập niên thành để sự (5)
Phong ba đình (6) hạ tạ Kim nhân (7)


Chú thích


(1) Yển Thành 郾城: Thuộc tỉnh Hà Nam 河南, phía nam thành Hứa Xương 許昌.
(2) Nhạc Vũ Mục 岳武穆: Tức Nhạc Phi 岳飛, tướng tài thời Nam Tống 南宋. Sau bị Tần Cối 秦檜 hại giết. Đến đời Hiếu Tông 孝宗, được phục chức và đặt tên thụy là Vũ Mục.
(3) Phụ huynh thân 父兄親: Ý nói vua Tống Cao Tông 宋高宗 không còn nghĩ đến việc cha (Huy Tông 徽宗) và anh (Khâm Tông 欽宗) đã bị quân Kim bắt.
(4) Kim bài thập nhị 金牌十二: Nhắc việc Tần Cối 秦檜 giả lệnh vua, một ngày phát mười hai thẻ kim bài ra mặt trận triệu Nhạc Phi 岳飛 về, rồi hạ ngục giết.
(5) Huyết chiến thập niên 血戰十年: Lần cuối nhận kim bài, Nhạc Phi than: "Công lao mười năm, bỏ đi một ngày".
(6) Phong Ba đình 風波亭: Một đình trong ngục Đại Lý Tự 大理寺, nơi Nhạc Phi bị giết, nay còn di tích ở Hàng Châu 杭州 (tỉnh Chiết Giang 浙江).
(7) Kim nhân 金人: Tần Cối 秦檜 muốn chủ hòa với người Kim.

Dịch nghĩa:
Yển Thành, nơi Nhạc Vũ Mục rút quân


Thời đó quân của Nhạc tướng quân từng đóng ở đây
Đất này xưa nay đã trải qua cát bụi chiến tranh
Đại tướng luống chịu mang cái nhục nước
Nhà vua đã dứt bỏ tình cha anh
Mười hai thẻ kim bài để lại mối hận
Ba ngàn quân kị chỉ còn lại đám mây chiều
Mười năm huyết chiến để thành ra cái việc
Bị giết ở đình Phong Ba để triều đình tạ lỗi với người Kim


Dịch thơ:
Yển Thành, nơi Nhạc Vũ Mục rút quân


Đây nơi Nhạc tướng đã dừng quân
Tự cổ binh đao trải bụi lầm
Đại tướng luống mang hờn tổ quốc
Nhà vua nỡ dứt nghĩa cha anh
Kim bài một tá niềm u uất
Thiết kị ba ngàn mây tối lan
Huyết chiến mười năm đành bỏ cuộc
Trước đình bỏ xác tạ Kim nhân


(Đặng Thế Kiệt dịch)



ed. 2023-01-26 hvtd-td v2 img2




Sunday, 7 June 2015

096 Kì lân mộ 麒麟墓



image Internet

河北道中五尺豐碑當大路
中有楷字大書麒麟墓
道傍故老為余言
永樂四年貢麟道死喪此土
官命立碑用存故
此事迄今已經古
但見官道蕩蕩無丘陵
其旁不封亦不樹
片石傾欺苔蘚蔓
淒風朝吹暮苦雨
吁嗟麟兮何由睹
吁嗟麟兮天上祥
骨肉委之虫蛾蠹
麟兮麟兮爾何苦
何況燕棣何如人
奪姪自立非仁君
暴怒一逞夷十族
大棒巨鑊烹忠臣
五年所殺百餘萬
白骨成山地血殷
麟兮果為此人出
大是妖物何足珍
或是爾生不忍見殺戮
先就此地捐其身
吁嗟仁獸兮麒麟
於世不見以為祥
見之不過同犬羊
若道能為聖人出
當世何不南遊翔

 

Kì lân mộ (1)

Hà Bắc đạo trung ngũ xích phong bi đương đại lộ
Trung hữu khải tự đại thư kì lân mộ
Đạo bàng cố lão vị dư ngôn
Vĩnh Lạc (2) tứ niên cống lân đạo tử táng thử thổ
Quan mệnh lập bi dụng tồn cố
Thử sự hất kim dĩ kinh cổ
Đãn kiến quan đạo đãng đãng vô khâu lăng
Kì bàng bất phong diệc bất thụ
Phiến thạch khuynh khi đài tiển man
Thê phong triêu xuy mộ khổ vũ
Hu ta lân hề hà do đổ
Hu ta lân hề thiên thượng tường
Cốt nhục ủy chi trùng nghĩ đố
Lân hề lân hề nhĩ hà khổ
Hà huống Yên Đệ (2) hà như nhân
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
Bạo nộ nhất sính di thập tộc
Đại bổng cự hoạch phanh trung thần
Ngũ niên sở sát bách dư vạn
Bạch cốt thành sơn địa huyết an
Lân hề quả vị thử nhân xuất
Đại thị yêu vật hà túc trân
Hoặc thị nhĩ sinh bất nhẫn kiến sát lục
Tiên tựu thử địa quyên kì thân
Hu ta nhân thú hề kì lân
Ư thế bất kiến dĩ vi tường
Kiến chi bất quá đồng khuyển dương
Nhược đạo năng vị thánh nhân xuất
Đương thế hà bất nam du tường (3)


Chú thích


(1) Kì lân 騏麟: Theo sách cổ, kì lân là linh thú, báo hiệu điềm lành, đời thịnh trị, kì lân ra đời là có thánh nhân xuất hiện.
(2) Vĩnh Lạc 永樂, Yên Ðệ 燕棣: Yên Ðệ, con thứ sáu của Minh Thái Tổ 明太祖 (1368-1398), đã cướp ngôi của cháu là Minh Huệ Ðế 明惠帝 (1399-1402), tự lập lên làm vua Minh Thành Tổ 明成祖, niên hiệu Vĩnh Lạc 永樂 (1403-1424). Ðại thần Phương Hiếu Nhụ chống lệnh không chịu thảo chiếu cho Yên Ðệ lên ngôi, bị đánh tan xác, cả mười họ bị tru di.
(3) Nam du tường 南遊翔: Thời kì đó, ở nước ta, Bình Ðịnh Vương Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi khởi nghĩa chiến thắng quân Minh (1418-1427).

Dịch nghĩa:
Mộ kì lân


Trên đường đi Hà Bắc có tấm bia cao năm thước dựng bên đường cái
Trong có đề mấy chữ to theo lối chữ khải (chữ chân) Mộ Kì Lân
Bên đường có ông lão kể rằng
Năm vua Vĩnh Lạc thứ tư, con kì lân đem cống vua, chết giữa đường, chôn ở đây
Quan trên cho dựng bia để ghi lại việc cũ
Việc ấy đến nay đã lâu rồi
Nay chỉ còn thấy con đường cái quan bằng phẳng không gò đống
Cạnh bia không đắp đất cao làm mộ cũng chẳng trồng cây
Phiến đá xiêu vẹo, rêu mọc che phủ lan tràn
Sớm mai gió lạnh thổi, chiều dầm mưa tuôn
Than ôi, kì lân vì đâu mà hiện ra cho thấy
Than ôi, kì lân là giống vật kia báo hiệu điềm lành ở trên trời
Nay thịt xương bỏ cho sâu kiến đục
Ôi kì lân, ôi kì lân, sao mi khổ thế
Huống nữa Yên Ðệ là người thế nào
Cướp ngôi vua của cháu mình để tự lập làm vua, y không phải là bậc nhân quân
Để hả một cơn giận y giết cả mười họ người ta
Giết trung thần bằng cách đánh bằng gậy lớn và nấu trong vạc dầu to
Trong năm năm giết trên trăm vạn mạng người
Xương trắng chất thành núi, đất đỏ sẫm máu
Ôi kì lân hỡi, nếu mi vì kẻ ấy mà hiện ra,
Thì mi chỉ là đồ yêu quái, có gì đáng quý
Hoặc là mi sống ở đời vì không nỡ nhìn cảnh chém giết
Nên đến chỗ này mi chết trước
Than ôi, kì lân là loài thú có đức nhân
Trên đời chẳng thấy nên cho là điềm lành
Thấy rồi thì chẳng qua cũng như loài chó, loài dê
Nếu bảo kì lân vì thánh nhân mà hiện ra
Thì thời ấy sao không lượn sang
chơi phương Nam?

Dịch thơ: 
Mộ kì lân

Ðường đi Hà Bắc ngay đường cái
Bia cao đề chữ khải Kì Lân
Bên đường ông lão kể rằng
Ðời vua Vĩnh Lạc có lần cống lân
Nhưng giữa đường bất thần lân chết
Quan truyền ghi dấu vết về sau
Dựng bia đào mộ chôn sâu
Việc này thuở đó đã lâu lắm rồi
Nhìn chẳng thấy gò đồi đâu cả
Ðất không bồi, cạnh mả không cây
Ðá bia nghiêng đổ, rêu đầy
Sớm mai lạnh gió, chiều rày dầm mưa
Lân ơi hỡi, hiểu chưa chưa hiểu
Trên trời kia báo hiệu điềm lành
Thịt xương sâu kiến đục quanh
Lân ơi, lân hỡi, sao đành khổ thân
Còn Yên Ðệ thêm phần nhơ nhuốc
Cướp ngôi vua thân thuộc cháu mình
Nổi cơn chẳng chút thương tình
Mười dòng họ cả gia đình diệt luôn
Trung thần cứ luông tuồng đánh giết
Nấu vạc dầu đến chết vạn trăm
Năm năm bách hại muôn vàn
Xương cao chất núi, máu tràn đỏ sông
Lân hỡi, nếu vì ông vua đó
Mà ra đời thì có gì hay
Ðúng là yêu quái chi đây
Quý gì thứ đó mà ai đem thờ
Hoặc đau lòng cuộc cờ chém giết
Nên đến đây mi chết cho rồi
Lân ơi, lân hỡi, lân ơi
Người ta chưa thấy nên đời dị đoan
Thấy rõ rồi cũng toàn dê chó
Bảo thấy lân là có thánh nhân
Nước Nam thời đó nhân quân
Sao không bay liệng một lần sang chơi?


(Đặng Thế Kiệt dịch)





Tham khảo
http://zh.wikipedia.org/wiki/麒麟


ed. 2023-01-25 hvtd-td v2 img2